- Tranh chấp gì? án hình sự — "ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HS-ST Ngày: 15-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Vũ Thường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tuấn Chiến
2. Ông Nguyễn H Chính
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Duyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Hện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2023, tại Tòa án nhân dân Hện Đ, tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2023/TLST-HS, ngày 28 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn S, sinh năm 1974 tại huyện Đ, tỉnh P; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu 06, xã T, huyện Đ, tỉnh P; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình Đ, sinh năm 1940 và bà Vũ Thị Ph, sinh năm 1949; Có vợ là Lê Thị D, sinh năm 1978 (đã ly hôn) và 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014);
- Tiền án, tiền sự: Không
- Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 271/2007/HSST, ngày 25/7/2007, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong bản án ngày 25/9/2008.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/5/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt
2. Nguyễn Minh H, sinh năm 1972 tại thành phố Y, tỉnh Y; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Khu 04, xã M, huyện Đ, tỉnh P; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1934; Có vợ là Nghiêm Thị Q, sinh năm 1980 và 02 con (con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2012);
- Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/5/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Trần Thế X, sinh năm 1995
Địa chỉ: Khu 02, xã Vân Đồn, huyện Đ, tỉnh P
2. Chị Nghiêm Thị Q, sinh năm 1980
Địa chỉ: Khu 04, xã M, huyện Đ, tỉnh P
3. Chị Lê Thị D, sinh năm 1978
Địa chỉ: Khu 06, xã T, huyện Đ, tỉnh P
4. Bà Vũ Thị M, sinh năm 1957
Địa chỉ: Khu 02, xã V, huyện Đ, tỉnh P
Anh X, chị Q có mặt, chị D, bà M vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 45 phút, ngày 14/5/2023 tại khu 6, xã T, huyện Đ tổ công tác phòng chống ma túy của Công an huyện Đoan Hùng kiểm tra và lập biên bản vi phạm hành chính đối với Lê Văn S, sinh năm 1974 ở khu 6, xã T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tạm giữ của S: 02 gói nhỏ có đặc điểm gói ngoài là mảnh giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, 01 gói nhỏ có đặc điểm gói ngoài là mảnh giấy hai mặt màu trắng bạc bên trong 03 gói đều chứa chất bột cục màu trắng; 01 điện thoại di động Nokia 105 kèm sim số 0986.345.056; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 30Z4 - 9180; 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng.
Công an huyện Đ đã tiến hành niêm phong 03 gói chứa chất bột, cục màu trắng gửi đi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 632/KL-KTHS ngày 17/05/2023 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Chất bột, cục màu trắng chứa trong 03 gói giấy trong đó 02 gói giấy có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng; 01 gói giấy có hai mặt đều màu trắng bạc trong Bì niêm phong gửi đến giám định là chất ma tuý, có khối lượng 0,193 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetymorphine.
Heroine (hay Heroin, Diacetymorphine): số thứ tự 9, Danh mục 1A, nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn S khai đã 02 lần bán trái phép chất ma tuý cho Nguyễn Minh H, sinh năm 1972 nhà ở khu 4, xã M thu tổng 400.000 đồng. Cơ quan điều tra triệu tập lấy lời khai Nguyễn Minh H. H thừa nhận đã mua ma tuý củaS như trên. Sau khi mua được ma tuý, H đã 02 lần bán trái phép chất ma tuý cho Trần Thế X, sinh năm 1995 nhà ở khu 2, xã V thu tổng 600.000 đồng. Cơ quan điều tra triệu tập, lấy lời khai của Trần Thế X. X thừa nhận 02 lần mua ma tuý của Nguyễn Minh H. Xét vụ việc có dấu hiệu tội phạm, ngày 15/5/2023 Công an huyện Đ chuyển hồ sơ vụ việc vi phạm hành chính đến Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Đoan Hùng để giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đ đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn S và Nguyễn Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tiến hành khám xét nơi ở của Lê Văn S tại khu 6, xã T và nơi ở của Nguyễn Minh H ở khu 4, xã M, huyện Đ. Qua khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ toàn bộ nội dung vụ án như sau:
Lê Văn S, Nguyễn Minh H và Trần Thế X đều là người sử dụng trái phép chất ma tuý.S đã 02 lần bán trái phép chất ma tuý cho H. Ngay sau khi mua được ma tuý củaS, H đã bán cho Trần Thế X để X sử dụng. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 19 giờ, ngày 12/5/2023, Trần Thế X sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus lắp sim số 0974.963.514 gọi đến số điện thoại 0379.839.395 lắp trên điện thoại di động nhãn hiệu Itel của Nguyễn Minh H hỏi mua 300.000 đồng ma tuý Heroine. H đồng ý. Sau đó H gọi điện đến số thuê bao 0986.345.056 lắp trên điện thoại nhãn hiệu Nokia 105 của Lê Văn S hỏi mua 200.000 đồng ma tuý Heroine.S đồng ý và hẹn gặp H ở ngã tư đường mới thuộc khu 7 xã T. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter biển số 19K7-3976 rồi gọi điện thoại bảo X cầm tiền ra ngã tư đường mới khu 7, xã T. Tại đây X đưa cho H 300.000 đồng. H cầm tiền và bảo X đi ra vị trí cách đó khoảng 20m đứng đợi mình. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày,S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX biển số 30Z4-9180 đi đến điểm hẹn.S nhận 200.000 đồng và bán cho H 01 gói ma tuý có đặc điểm gói ngoài là mảnh nilon màu đen, bên trong là mảnh giấy mặt ngoài màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa ma tuý Heroine rồi S đi về nhà. Sau khi mua được ma tuý củaS, H đi lại vị trí X đứng đợi rồi cùng X đi đến đoạn đường vắng thuộc khu 7, xã T, huyện Đ. H lấy gói ma tuý vừa mua được chia cho X một phần, phần còn lại H mang về nhà và sử dụng hết cho bản thân. Số tiền có được từ việc bán ma tuý,S và H đã chi tiêu cá nhân hết. Số ma tuý mua được của H, X đã mang về nhà và sử dụng hết.
Về nguồn gốc số ma tuý đã bán cho H, S khai chiều ngày 12/5/2023 tại khu vực gần nút giao Quốc Lộ 2 và IC8 cao tốc Nội Bài – Lào Cai đoạn thuộc xã Phù Ninh, Hện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.S gặp người đàn ông tên D nhưng S không biết cụ thể người này ở đâu, họ tên là gì.S đã mua được của người này 01 gói ma tuý Heroine với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý,S đã bán một phần cho H như đã nêu trên, phần còn lại S đem về nhà và sử dụng hết cho bản thân.
Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ ngày 14/5/2023 Trần Thế X gọi điện thoại cho H hỏi mua 300.000 đồng tiền ma tuý. H đồng ý rồi gọi điện thoại cho Lê Văn S hỏi mua 200.000 đồng tiền ma tuý.S đồng ý và tiếp tục hẹn H đến ngã tư đường mới thuộc khu 7, xã T để giao dịch. Đến 19 giờ 20 phút cùng ngày, H gọi điện thoại bảo X mang tiền ra ngã tư đường mới thuộc khu 7, xã T. Tại đây X đưa cho H 300.000 đồng. H cầm tiền sau đó bảo X đi ra vị trí khác đợi mình. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày S đi đến điểm hẹn. Tại đây S nhận 200.000 đồng và bán cho H 01 gói ma tuý có đặc điểm là gói ngoài là mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong chứa Heroine rồi S đi về nhà. Sau khi mua được ma tuý của S, H đi lại vị trí X đứng đợi rồi cùng X đi đến bãi đất ven đường mới thuộc khu 7, xã T, huyện Đ. H tách một phần ma tuý trong gói vừa mua được đưa cho X. Số ma tuý này X đã sử dụng hết cho bản thân. Phần ma tuý còn lại, H cũng đã sử dụng hết.
Về nguồn gốc số ma tuý đã bán cho H,S khai chiều ngày 14/5/2023S mua của người đàn ông tên D 01 gói ma tuý có đặc điểm gói ngoài là mảnh giấy hai mặt màu trắng bạc, bên trong là Heroine với giá 800.000 đồng ở khu vực gần nút giao Quốc Lộ 2 và IC8 cao tốc Nội Bài – Lào Cai đoạn thuộc xã Phù Ninh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ Trên đường đi về nhà,S dừng xe tại đoạn đường vắng (không xác định được địa điểm cụ thể) mở gói ma tuý vừa mua được rồi sử dụng một phần cho bản thân. Phần ma tuý còn lạiS chia thành 04 gói nhỏ, trong đó 03 gói có đặc điểm gói ngoài là mảnh giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng; 01 gói có đặc điểm gói ngoài là mảnh giấy hai mặt màu trắng bạc. Sau đó,S nhận được điện thoại của H,S đã bán cho H 01 gói ma tuý thu 200.000 đồng. Trên đường về nhà,S bị tổ công tác của Công an huyện Đoan Hùng phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính và thu giữ 03 gói ma tuý còn lại như đã nêu trên. Quá trình điều tra,S trình bày số ma tuý nàyS tàng trữ nhằm mục đích để bán cho người có nhu cầu nhưng chưa kịp bán cho ai thì bị thu giữ.
Tại bản cáo trạng số: 44/CT-VKS ngày 25/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Hện Đ, tỉnh P đã truy tố các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Minh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn S từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 15/5/2023.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 15/5/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu của bị cáo Lê Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và truy thu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.
- Tịch thu của bị cáo Nguyễn Minh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) và truy thu 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.
- Tiêu hủy sim điện thoại số 0978.194.158 và 0379.839.395 thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh H, sim điện thoại số 0986.345.056 thu giữ của bị cáo Lê Văn S, sim điện thoại số 0974.963.51401thu giữ của anh Trần Thế X; bì giấy số 632/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ gửi trả sau giám định.
- Trả lại cho bà Vũ Thị M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus.
- Trả lại cho chị Nghiêm Thị Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 19K7-3976.
- Trả lại cho chị Lê Thị D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 30Z-49180.
+ Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận gì, thừa nhận và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về căn cứ buộc tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian 02 ngày 12/5/2023 và 14/5/2023, tại khu vực ngã tư đường mới thuộc khu 7, xã T, huyện Đ, Lê Văn S đã 02 lần bán trái phép chất ma tuý loại Heroine cho Nguyễn Minh H thu tổng số tiền 400.000 đồng. Ngay sau khi mua được ma túy, Nguyễn Minh H đã 02 lần bán trái phép chất ma tuý Heroine cho Trần Thế X thu tổng số tiền 600.000 đồng. Ngoài ra Lê Văn S còn có hành vi tàng trữ 0,193 gam ma tuý Heroine nhằm mục đích để bán cho người khác nhưng chưa kịp bán cho ai thì bị phát hiện, thu giữ.
Hành vi 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Minh H và tàng trữ 0,193gam ma túy nhằm mục đích để bán của bị cáo Lê Văn S và hành vi 02 lần bán trái phép chất ma túy cho Trần Thế X của bị cáo Nguyễn Minh H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Phạm tội 02 lần trở lên…”
. Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an. Việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy hiện nay đang gây nhức nhối trong xã hội và nó còn là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác.
. Về nhân thân: Bị cáo Lê Văn S là người có nhân thân xấu, năm 2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội lần đầu.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khi bị bắt các bị cáo còn khai ra lần phạm tội trước, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Minh H được tặng H chương chiến sỹ vẻ vang hạng nhất, nhì và H chương quân kỳ quyết thắng, bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng và được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bố mẹ đẻ bị cáo Lê Văn S là người có công với cách mạng và được tặng thưởng H chương kháng chiến hạng nhất, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội, nên cần xử phạt các bị cáo hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có chức vụ và không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với các điện thoại di động các bị cáo sử dụng liên lạc mua bán ma túy, là công cụ, phương tiện phạm tội, nên sẽ tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền bán ma túy bị cáo Nguyễn Minh H thu được là 600.000đ, bị cáo Lê Văn S thu được là 400.000đ sẽ tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và các sim điện thoại thu giữ của các bị cáo và của anh Trần Thế X do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, biển số 19K7-3976 của chị Nghiêm Thị Q và xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, biển số 30Z-49180 của chị Lê Thị D, bị cáo Nguyễn Minh H và bị cáo Lê Văn S sử dụng phạm tội, nhưng chị Q và chị D đều không biết hành vi phạm tội của các bị cáo, nên trả lại cho chị Q và chị D.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus thu giữ của anh Trần Thế X, nhưng đây là tài sản của bà M, bà M không biết anh X sử dụng liên lạc mua ma túy nên trả lại cho bà M.
. Đối với người nam giới tên D bán ma túy cho bị cáo Lê Văn S, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này, bị cáo cũng không biết họ tên địa chỉ cụ thể ở đâu. Do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ sẽ xử lý sau.
. Đối với anh Trần Thế X là người mua ma túy để sử dụng và đã sử dụng hết nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đoan Hùng xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 đối với bị cáo Lê Văn S; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 đối với bị cáo Nguyễn Minh H;
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Căn cứ khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Minh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Lê Văn S 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 15/5/2023.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam, ngày 15/5/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu của bị cáo Nguyễn Minh H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu đen đã qua sử dụng, số IMEI 1: 35514911516166, số IMEI 2: 35514911516174, 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) và truy thu 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.
- Tịch thu của bị cáo Lê Văn S và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, vỏ màu hồng đã cũ, số sê ri 1: 353482155739694, số sê ri 2: 353482155739692, 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và truy thu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.
- Tiêu hủy: sim điện thoại số 0978.194.158 và số 0379.839.395 thu giữ của bị cáo Nguyễn Minh H, sim điện thoại số 0986.345.056 thu giữ của bị cáo Lê Văn S, sim điện thoại số 0974.963.51401thu giữ của anh Trần Thế X, 0,117gam ma túy, loại Hêrôin được niêm phong trong 01 bì giấy số 632/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ gửi trả sau giám định.
- Trả lại cho chị Nghiêm Thị Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter, số máy 5VT1-112500, số khung RLCJ5VT105Y11250, gắn BKS 19K7-3976.
- Trả lại cho chị Lê Thị D 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, số máy: JC43E-5503388, số khung RLHJC 4329AY053007, gắn BKS 30Z-49180.
- Trả lại cho bà Vũ Thị M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, vỏ màu trắng đã qua sử dụng, số IMEI: 358351067190418.
(Các vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự Hện Đoan Hùng đang quản lý).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Minh H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - Người có QLNVLQ; - VKSND Hện Đoan Hùng; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Công an Hện Đoan Hùng; - Chi cục THADS Hện Đoan Hùng; - Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Vũ Thường |