- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào Seo P bị truy tố, xét xử về tội Hủy hoại rừng - phạm tội hủy hoại rừng (điều 243 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào Seo P phạm tội “Hủy hoại rừng”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2023/HS-ST Ngày 25-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tuấn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lý Văn Tòng;
2. Ông Hoàng Văn Tấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ch, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ch, tỉnh Tuyên Quang, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2023/QĐXXST-HS, ngày 14/9/2023, đối với bị cáo:
Thào Seo P, (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/01/1989, tại huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang;
Nơi đăng ký thường trú, chỗ ở: Thôn S, xã TM, huyện Ch, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: H’Mông; tôn giáo: Đạo tin lành; bố đẻ: Thào Seo L, sinh năm 1962; mẹ đẻ: Sùng Thị P1, sinh năm 1970; vợ: Vàng Thị C, sinh năm 1989, con: Có 03 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 08/8/2023 đến ngày 12/9/2023, hiện đang bị áp dụng biện pháp Bảo lĩnh. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Thào Seo P: Ông Phạm Thế Nghĩa, Trợ giúp viên pháp lý, công tác tại Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
- Nguyên đơn dân sự: UBND xã TM, huyện Ch, tỉnh Tuyên Quang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đồng Văn H, chức vụ: Chủ tịch UBND xã TM. Có mặt.
- Người làm chứng: Phan Văn T, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn S, xã TM, huyện Ch, tỉnh Tuyên Quang, Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 2/2023 (không xác định ngày cụ thể), Thào Seo P, sinh năm 1989, trú tại thôn S, xã TM, huyện Ch do không có đất để canh tác trồng cây lâm nghiệp nên P một mình mang theo 01 dao tư, chuôi gỗ đi lên khu vực rừng Pà Thình, thuộc thôn S, xã TM, huyện Ch để chặt phát rừng để lấy đất trồng cây lâm nghiệp. Khi đến nơi P dùng dao chặt, phát các cây gỗ tự nhiên, gồm cây: Sung, Thôi Ba, Ba Soi, Lim Vang, Ngát, Ràng Ràng Mít, Máu Chó có đường kính trung bình từ 10cm đến 15cm và cây Nứa, cây Giang (có chiều dài trung bình từ 02m đến 09m, đường kính trung bình từ 02cm đến 04cm). P chặt phát cây rừng liên tục trong khoảng 15 ngày thì dừng lại. Ngày 23/3/2023, tổ Công tác Hạt Kiểm lâm Ch tuần tra, phát hiện hành vi Hủy hoại rừng của Thào Seo P. Trong quá trình Hạt kiểm lâm huyện Chiêm Hoá thụ lý điều tra, khoảng cuối tháng 5 năm 2023, Thào Seo P đã đốt cháy toàn bộ thực bì và trồng cây Keo trên toàn bộ diện tích rừng đã Huỷ hoại nhằm khắc phục hậu quả.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và tại Biên bản xác định đối tượng rừng của Hạt Kiểm lâm huyện Chiêm, xác định: Vị trí Thào Seo P hủy hoại rừng trái pháp luật thuộc lô 6, khoảnh 133a, chức năng sản xuất do Ủy ban nhân dân xã TM quản lý (theo bản đồ điều chỉnh quy hoạch phân 3 loại rừng xã TM ban hành kèm theo các Quyết định 1859/QĐ-UBND ngày 31/12/2016; số 1820/QĐ-UBND ngày 16/12/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang). Tổng diện tích rừng bị hủy hoại là: 21.500m2; Lâm sản bị thiệt hại gồm 1.056 cây nứa (21 khóm); 14.910 cây Giang (224 khóm); 12 cây thân gỗ thuộc loài thực vật thông thường (gồm Sung, Thôi Ba, Ba Soi, Lim Vang, Ngát, Ràng Ràng Mít, Máu Chó) từ nhóm V-VIII có khối lượng 0,617 m3 (gỗ tròn).
Vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ của Thào Seo P 01 con dao tư chuôi bằng gỗ, dài 44cm, lưỡi dao có vết mẻ dài 2,7cm.
Tại kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 21/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ch kết luận: Tổng giá trị lâm sản bị thiệt hại là 24.635.600 đồng, trong đó:
- 12 cây thân gỗ thuộc loài thông thường từ nhóm V đến nhóm VIII có tổng khối lượng 0,617m3 tại thời điểm tháng 3/2023 có trị giá là: 686.600 đồng;
- 14.910 cây Giang, có đường kính từ 02cm-04cm, chiều dài từ 02m đến 09m tại thời điểm tháng 03/2023 có trị giá là 22.365.000 đồng;
- 1.056 cây Nứa, có đường kính từ 02cm đến 04cm, chiều dài từ 04m đến 08m tại thời điểm tháng 03/2023 có trị giá là 1.584.000đ.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo pháp luật của Nguyên đơn dân sự - ông Đồng Văn H Chủ tịch UBND xã TM yêu cầu bị can Thào Seo P bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra Thào Seo P đã trồng 6.500 cây keo trên toàn bộ diện tích rừng đã hủy hoại có tổng giá trị 17.250.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, bị can Thào Seo P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Vật chứng thu giữ; Kết luận định giá tài sản; lời khai nhân chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 55/CT-VKSCH, ngày 12 tháng 9 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch đã truy tố bị cáo Thào Seo P về tội: Hủy hoại rừng, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào Seo P phạm tội: Hủy hoại rừng.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thào Seo P từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 10 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã TM, huyện Ch để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thuộc hộ nghèo, là dân tộc thiểu số cư trú tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện trồng 6.500 cây Keo trên toàn bộ diện tích rừng bị thiệt hại với tổng giá trị 17.250.000 đồng. Ngày 14/9/2023 bị cáo đã nộp bồi thường số tiền 7.385.600 đồng để bồi thường thiệt hại. Số cây bị cáo trồng và số tiền bị cáo tự nguyện nộp tương đương giá trị thiệt hại bị cáo gây ra do vậy không đề nghị Hội đồng xem xét về trách nhiệm dân sự.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 dao tư chuôi bằng gỗ, dài 44 cm, lưỡi dao có vết mẻ dài 2,7cm.
Ngoài ra đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo Bản án đối với bị cáo và nguyên đơn dân sự.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Thào Seo P đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại tổng số tiền 24.635.600 đồng (bị cáo trồng cây trên toàn bộ diện tích rừng bị thiệt hại hết 17.250.000 đồng và tự nguyện nộp bồi thường số tiền 7.385.600 đồng), quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thuộc hộ nghèo, là dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, tại phiên tòa đại diện UBND xã TM xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm đ khoản 2 Điều 243; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp dưới khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo thuộc hộ nghèo nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Ghi nhận bị cáo đã nộp số tiền 7.385.600 đồng bồi thường khắc phục hậu quả tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ch.
Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì, nhất trí với ý kiến của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa nguyên đơn dân sự giữ nguyên các ý kiến đã trình bày trong quá trình điều tra, truy tố, do bị cáo đã trồng cây trên toàn bộ diện tích rừng bị thiệt hại là 17.250.000 đồng và tự nguyện nộp bồi thường số tiền 7.385.600 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ch với mục đích để bồi thường nên đại diện nguyên đơn dân sự không yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá lâm sản bị thiệt hại theo kết luận định giá. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ch, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố; của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, nguyên đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Thào Seo P khai nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng tháng 02 năm 2023 (không xác định được ngày cụ thể), Thào Seo P đã có hành vi huỷ hoại 21.500m2 rừng tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi, chức năng rừng sản xuất do Ủy ban nhân dân xã TM, huyện Ch quản lý thuộc Lô 6, khoảnh 133a (theo bản đồ điều chỉnh quy hoạch phân ba loại rừng xã TM, huyện Ch ban hành kèm theo Quyết định 1859 ngày 31/12/2016 và Quyết định 1820/QĐ-UBND ngày 16/12/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang). Lâm sản bị thiệt hại trị giá 24.635.600 đồng (Hai mươi tư triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm đồng). Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Hủy hoại rừng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục hậu quả trồng 6.500 cây Keo trên diện tích rừng bị hủy hoại, với tổng giá trị cả cây giống và công trồng cây là 17.250.000 đồng (có xác nhận của UBND xã TM); ngày 14/9/2023 bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 7.385.600 đồng để bồi thường thiệt hại đã gây ra, bị cáo là người dân tộc H’Mông, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; đại diện nguyên đơn dân sự xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được diện tích rừng mà bị cáo hủy hoại không phải là tài sản của bị cáo trồng, mà là tài sản của Nhà nước do Ủy ban nhân dân xã TM, huyện Ch quản lý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý, bảo vệ rừng của Nhà nước nên phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo thuộc hộ nghèo, là dân tộc thiểu số cư trú tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, lạc hậu, mục đích của bị cáo là chặt phá cây tự nhiên để trồng cây Lâm nghiệp, phát triển kinh tế, tại phiên tòa UBND xã TM xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, HĐXX cần xem xét phần nào để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho hưởng án treo không nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo có đủ căn cứ để được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo đồng thời ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và làm gương phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 243 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, bị cáo thuộc hộ nghèo, là dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và trợ giúp viên pháp lý, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả trồng 6.500 cây Keo và tiền phân bón, công trồng cây với tổng trị giá 17.250.000 đồng (có xác nhận của UBND xã TM, huyện Ch). Ngày 14/9/2023 bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 7.385.600 đồng để bồi thường thiệt hại. Tổng số tiền bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả bị cáo đã thực hiện là 24.635.600 đồng (Hai mươi tư triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm đồng). Như vậy bị cáo đã tự nguyện khắc phục hoàn toàn hậu quả. Tại phiên tòa, nguyên đơn dân sự Uỷ ban nhân dân xã TM, huyện Ch không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Do vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét ghi nhận bị cáo đã bồi thường thiệt hại và khắc phục toàn bộ hậu quả.
Về vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 dao tư chuôi bằng gỗ, dài 44 cm, lưỡi dao có vết mẻ dài 2,7cm, đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy đối với 01 dao tư chuôi bằng gỗ, dài 44 cm, lưỡi dao có vết mẻ dài 2,7cm, cũ đã qua sử dụng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và nội dung bào chữa của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo về tội danh, mức hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo đã tạm nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm trước khi mở phiên tòa. Do, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm nên số tiền này được chuyển thành tiền án phí. Bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 243; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thào Seo P phạm tội “Hủy hoại rừng”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Thào Seo P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 05 (năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 25/9/2023.
Giao bị cáo Thào Seo P cho Uỷ ban nhân dân xã TM, huyện Ch, tỉnh Tuyên Quang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo trồng 6.500 cây Keo và công trồng cây trị giá 17.250.000 đồng và nộp bồi thường 7.385.600 đồng (Bảy triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0002747 ngày 14/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ch. (Bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại). Số tiền bị cáo đã nộp được sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 dao tư chuôi bằng gỗ, dài 44 cm, lưỡi dao có vết mẻ dài 2,7cm, cũ đã qua sử dụng.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ch với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ch ngày 14/9/2023
5. Về án phí: Bị cáo Thào Seo P phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Ghi nhận bị cáo đã nộp số tiền 200.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002748 ngày 14/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ch. Số tiền này được chuyển thành tiến án phí bị cáo phải nộp. Bị cáo đã nộp đủ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh TQ; - VKSND huyện CH; - Sở Tư pháp; - Cơ quan ĐT CA huyện CH; - Cơ quan THAHS CA huyện CH; - Chi cục THADS huyện CH; - Phòng HSNV, CA tỉnh TQ; - Bị cáo; - Nguyên đơn dân sự; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ, án văn. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Tú |