vanban.org

Bản án 53/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Thị Kim A đối với ông Nguyễn Phú D; bà Đỗ Thị Kim A được ly hôn ông Nguyễn Phú D.

Về con chung: ông bà có 02 con chung là Nguyễn Đỗ Bảo Trâm, (giới tính: nữ) sinh ngày 01/4/2014; Nguyễn Đỗ Bảo Hân, (giới tính: nữ), sinh ngày 28/01/2016. Giao 02 con chung Nguyễn Đỗ Bảo Trâm, Nguyễn Đỗ Bảo Hân cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Thị Kim A đối với ông Nguyễn Phú D; bà Đỗ Thị Kim A được ly hôn ông Nguyễn Phú D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/5/2023
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT - TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trung Lưu

2. Bà Lê Thị Kiều Thu

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Giang Ngọc Hà, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường - Kiểm sát viên.

------------------------------------------------------------

Ngày 12 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự về Hôn nhân và gia đình thụ lý số 77/2023/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023, về việc: “Ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản chung, nợ chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023; Quyết định Hoãn phiên tòa số: 88/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị Kim A, sinh năm: 1988 Địa chỉ: Căn hộ chung cư B, khu chung cư nhà ở xã hội HQC C, số 135, Nguyễn Hội, khu phố 1, phường C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Bị đơn: Ông Nguyễn Phú D, sinh năm: 1986 Địa chỉ: Căn hộ chung cư B, khu chung cư nhà ở xã hội HQC C, số 135, Nguyễn Hội, khu phố 1, phường C, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp ngày 15/02/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Thị Kim A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân, bà và ông Nguyễn Phú D tự nguyện tìm hiểu, sống chung từ năm 2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam Thanh, huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 64/2013, cấp ngày 09/10/2013. Cuộc sống chung thường xảy ra bất hòa, ông D ngoại tình, đánh đập bà và có lúc cố tình muốn giết bà, bà không còn tình cảm với ông D nữa, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông bà được ly hôn theo thủ tục được pháp luật quy định, ông D có địa chỉ như bà cung cấp cho Tòa án là căn hộ thuộc chung cư CC2 -1204 nhà ở xã hội HQC C nhưng ông D thường xuyên vắng nhà, bà có điện thoại, gởi các giấy tờ của Tòa án cho ông D, ông D biết việc bà đang khởi kiện ly hôn, biết ngày Tòa án mời làm việc nhưng cố tình không đến gây khó khăn cho Tòa và cho bà, bà phải nghỉ làm việc đến Tòa theo qui định, ông bà hiện nay đã mạnh ai nấy sống không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn.

Về con chung: ông bà có 02 con chung là Nguyễn Đỗ Bảo Trâm, (giới tính: nữ) sinh ngày 01/4/2014; Nguyễn Đỗ Bảo Hân, (giới tính: nữ), sinh ngày 28/01/2016.

Sau ly hôn nguyện vọng bà muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con. Về cấp dưỡng nuôi con, trước đây bà có yêu cầu, nay bà rút lại yêu cầu này chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: trước đây bà có yêu cầu, nay bà rút lại yêu cầu này không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Phú D có nhận Giấy triệu tập của Tòa án, biết việc Tòa án đang thụ lý giải quyết việc bà A yêu cầu ly hôn với ông nhưng không đến Tòa; không gởi văn bản trình bày ý kiến của mình.

Ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tại phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự: xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71; Bị đơn không thực hiện đúng Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: về hôn nhân, bà Đỗ Thị Kim A được ly hôn ông Nguyễn Phú D, về con chung, giao hai con chưa thành niên cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng, bà A chưa yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xét. Về tài sản và nợ chung trước khi Tòa án tổ chức hòa giải bà A rút lại các yêu cầu nên đề nghị Tòa án đình chỉ phần yêu cầu này của nguyê đơn trả lại tạm ứng án phí của các phần tranh chấp này cho nguyên đơn. Về án phí bà Đỗ Thị Kim A phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: bà Đỗ Thị Kim A yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Phú D có nơi cư trú tại thành phố Phan Thiết; về con chung ông bà có 02 con chung là Nguyễn Đỗ Bảo Trâm, (giới tính: Nữ) sinh ngày 01/4/2014; Nguyễn Đỗ Bảo Hân, (giới tính: nữ), sinh ngày 28/01/2016. Khi nộp đơn khởi kiện bà yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp giữa bà và ông D là Ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản chung và nợ chung. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết bà rút lại các yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nữa nên Tòa án chỉ giải quyết yêu cầu còn lại là tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con chung” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố Phan Thiết quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành các bước thụ lý, hòa giải, ra Quyết định xét xử… nguyên đơn tham gia và chấp hành đầy đủ theo qui định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông D nhưng ông D vẫn vắng mặt nên Tòa án đã tiến hành lập biên bản đúng theo quy định của khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về pháp luật được áp dụng để giải quyết: bà Đỗ Thị Kim A và ông Nguyễn Phú D tự nguyện tìm hiểu, sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tam Thanh, huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 64/2013, cấp ngày 09/10/2013 nên là hôn nhân hợp pháp. Vì vậy, căn cứ vào Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về quan hệ hôn nhân: Bà A cho rằng, cuộc sống hôn nhân không được như ý muốn, xảy ra nhiều mâu thuẫn, ông D là người ngoại tình, đánh đập bà và có lúc cố tình muốn giết bà, bà không còn tình cảm với ông D nữa, vài tháng nay ông D không về nhà, bà đã cố gắng chịu đựng để con có đủ cha mẹ nhưng không thể cố gắng thêm, ông bà không mang lại hạnh phúc cho nhau, gia đình hiện nay thực sự đã tan vỡ, ông bà mâu thuẫn về kinh tế và tình cảm dẫn đến bế tắc trong cuộc sống nên bà yêu cầu HĐXX xem xét cho ông bà được ly hôn.

HĐXX xét thấy thực tế ông bà đã không sống cùng nhau đã vi phạm Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng, ông D thậm chí còn đánh đập bà, ông bà đã sống ly thân, điều đó thể hiện hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, gia đình không hạnh phúc nên HĐXX có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà A với ông D theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

. Về con chung: ông bà có 02 con chung là Nguyễn Đỗ Bảo Trâm, (giới tính: nữ) sinh ngày 01/4/2014; Nguyễn Đỗ Bảo Hân, (giới tính: nữ), sinh ngày 28/01/2016. Nguyện vọng bà A sau ly hôn muốn được trực tiếp nuôi cả hai con chưa thành niên, trước đây bà có yêu cầu ông D cấp dưỡng nay bà rút lại yêu cầu này, chưa yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con. Toà án đã thu thập bản tự khai thể hiện ý chí nguyện vọng của các con chung nên HĐXX nhận thấy các yêu cầu này là phù hợp nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

. Về tài sản và nợ chung: Đối với yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, mặc dù tại đơn khởi kiện nộp ngày 15/02/2023 bà yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng ngày 07/3/2023 bà có đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện rút lại các yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, xét thấy việc rút yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX đình chỉ yêu cầu này nếu sau này bà khởi kiện lại và thời hiệu khởi kiện vẫn còn thì sẽ được giải quyết xét xử bằng vụ án khác.

. Về án phí: bà Đỗ Thị Kim A không phải chịu án phí đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử, bà A phải nộp 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 146; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ D hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên xử:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Thị Kim A đối với ông Nguyễn Phú D; bà Đỗ Thị Kim A được ly hôn ông Nguyễn Phú D.

Về con chung: ông bà có 02 con chung là Nguyễn Đỗ Bảo Trâm, (giới tính: nữ) sinh ngày 01/4/2014; Nguyễn Đỗ Bảo Hân, (giới tính: nữ), sinh ngày 28/01/2016.

Giao 02 con chung Nguyễn Đỗ Bảo Trâm, Nguyễn Đỗ Bảo Hân cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Bà Đỗ Thị Kim A chưa yêu cầu ông Nguyễn Văn D cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Ông D được quyền thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng nuôi con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trường hợp có yêu cầu của cha mẹ hoặc các nhân, tổ chức theo quy định pháp luật tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung: đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung. Bà Đỗ Thị Kim A có quyền khởi kiện lại yêu cầu này nếu có tranh chấp.

Về nợ chung: bà Đỗ Thị Kim A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

3. Về án phí: bà Đỗ Thị Kim A phải nộp 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình. Ngày 22/02/2023 bà A đã nộp 21.352.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0015421 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phan Thiết nay chuyển 300.000 đồng sang án phí, trả lại 21.052.000 đồng cho bà A.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Đỗ Thị Kim A được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/5/2023), bị đơn ông Nguyễn Phú D vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt, niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ