vanban.org

Bản án 53/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Võ Văn H.

Về con chung: Giao con chung là Võ Hoàng Minh H sinh ngày 23/10/2005 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét giải quyết. Sau khi ly hôn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L - H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Võ Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26-9-2023
V/v ly hôn, tranh chấp vềnuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đỗ Văn Minh

2. Bà Nguyễn Minh Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòngtham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 45/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32A/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị L; ĐKHKTT: Số 10 B256 tổ 2 T, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; hiện trú tại: Số 01 lô 3B Đ, phường T, quận Hải An, Hải Phòng. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Võ Văn H; ĐKHKTT: Số 10 B256 tổ 2 T, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; hiện trú tại: Số 01 lô 3B Đ, phường T, quận Hải An, Hải Phòng. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 4 năm 2023, biên bản lấy lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Văn H tìm hiểu và đi tới kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường C, quận Ngô Quyền, nay là quận Hải An, Hải Phòng ngày 18/3/1995. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại địa chỉ số 01 lô 3B Đ, phường T, quận Hải An, Hải Phòng. Trong quá trình chung sống, giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do có nhiều bất đồng trong quan điểm sống và suy nghĩ, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Bên canh đó anh H có quan hệ tình cảm với người khác. Anh chị đã sống ly thân 2 năm nay. Đến nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Anh chị hiện có 02 con chung là Võ Hoàng Minh H sinh, ngày 23/10/2005 và Võ Thị Phương T, sinh ngày 16/12/1995; 01 con nuôi Hoàng Trung H, sinh ngày 18/8/2002. Ly hôn, chị đề nghị giao cháu Minh H cho chị trực tiếp nuôi dưỡng; cháu T và cháu H đã thành niên, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị L nhận nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, tại các buổi làm việc, phiên họp và tại phiên tòa anh Võ Văn Hiệp đều vắng mặt không có lý do, không gửi văn bản trình bày ý kiến, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng, nhưng anh Hiệp từ chối không nhận.

Tại phiên tòa, chị Hoàng Thị L vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm như đã nêu trong đơn khởi kiện, bản lấy lời khai, biên bản hoà giải, biên bản làm việc và trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ của chính quyền địa phương, đại diện gia đình thể hiện: Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn như chị L trình bầy. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận được một thời gian, thì mâu thuẫn phát sinh. Nguyên nhân do anh chị có những khác biệt trong quan điểm suy nghĩ cũng như lối sống, hơn nữa anh H có quan hệ tình cảm với người khác. Mặc dù mâu thuẫn anh chị được gia đình đã nhiều lần động viên, khuyên giải nhưng không có kết quả. Nay chị L xin ly hôn, quan điểm gia đình, chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo theo nguyện vọng của chị Hoàng Thị L.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật; nguyên đơn đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ ántheo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Hoàng Thị L ly hôn anh Võ Văn H.

Về con chung: Giao con chung là Võ Hoàng Minh Hiền sinh ngày 23/10/2005 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Hai cháu Võ Thị Phương T, sinh ngày 16/12/1995 và con nuôi Hoàng Trung H, sinh ngày 18/8/2002, đã thành niên, chị L nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự: Yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị L đối với anh Võ Văn H là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn là anh Võ Văn H vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Hoàng Thị L vắng mặt và đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị L.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị L và anh Võ Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường C, quận Ngô Quyền, Hải Phòng ngày 18/3/1995 nên căn cứ vào Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình quan hệ hôn nhân giữa anh, chị là hôn nhân hợp pháp.

Tòa án xác minh và thu thập chứng cứ cho thấy: Trong quá trình chung sống, giữa anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do có nhiều bất đồng trong quan điểm sống và suy nghĩ, đời sống vợ chồng không hạnh phúc. Bên cạnh đó anh Hiệp có quan hệ tình cảm với người khác. Anh chị đã sống ly thân 2 năm nay. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hòa giải, tình cảm vợ chồng không còn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh H và tiến hành hòa giải nhưng anh H không tham dự hòa giải theo triệu tập của Tòa án. Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Hiệp vắng mặt tại phiên toà mà không có lý do, là tự từ bỏ quyền lợi của mình trước tòa, đồng thời thể hiện anh H không có thiện chí hoà giải để vợ chồng đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn giữa Chị Hoàng Thị L và anh Võ Văn H đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy,việc chị L đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn anh H là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Về con chung: Anh chị hiện có 02 con chung là Võ Hoàng Minh H sinh, ngày 23/10/2005 và Võ Thị Phương T, sinh ngày 16/12/1995; 01 con nuôi Hoàng Trung H, sinh ngày 18/8/2002. Qua xác minh, thu thập chứng cứ cho thấy, cháu Minh H hiện do chị L chăm sóc và nguyện vọng của cháu Minh H là được ở với mẹ khi chị L và anh H ly hôn, do vậy, việc giao con chung theo nguyện vọng của chị L là phù hợp, không làm sáo trộn việc sinh hoạt, học tập và vẫn đảm bảo quyền và lợi ích cho con chung nên cần được chấp nhận. Hai cháu Võ Thị Phương T, sinh ngày 16/12/1995 và Hoàng Trung H, sinh ngày 18/8/2002, đã thành niên, chị L nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị L phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 207; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử chị Hoàng Thị L được ly hôn anh Võ Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung là Võ Hoàng Minh H sinh ngày 23/10/2005 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Chị L đã nộp đủ theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí sơ thẩm số 0004890 ngày 15/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

4. Về quyền kháng cáo: Chị L và anh H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ