vanban.org

Bản án 53/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B .

1. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Thành Y . Giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 01 tháng 3 năm 2018 của Ủy ban nhân dân thị trấn N , huyện T , tỉnh A không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hon, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B .
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH A
Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 4 - 2023
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Trần Văn H.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Diệp Thị Thu N.

2. Ông Phan Minh Q.

- Thư ký phiên toà: bà Đặng Huỳnh H - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh A .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: bà Bùi Phương A - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T , tỉnh A xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 529/2022/TLST-HNGĐ ngày 07/12/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07/3/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị B , sinh năm 1998.

Địa chỉ: khóm Đ , thị trấn N , huyện T , tỉnh A .

2. Bị đơn: anh Nguyễn Thành Y , sinh năm 1998.

Địa chỉ: khóm Đ , thị trấn N , huyện T , tỉnh A .

(Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt, không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 21/02/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày: sau thời gian tìm hiểu, chị B và anh y tiến đến hôn nhân vào năm 2017, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn N , huyện T , tỉnh A ngày 01/3/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung tên Nguyễn Trung H , sinh ngày 25/3/2018 và Nguyễn Trung N , sinh ngày 05/4/2022. Đến năm 2019, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do anh y thường xuyên uống rượu, không quan tâm đến gia đình và nhiều lần đánh đập chị B . Mặc dù được gia đình 02 bên hòa giải nhưng anh y vẫn không sửa đổi. Tháng 5 năm 2020, chị B gửi đơn yêu cầu ly hôn với anh y nhưng sau đó rút lại đơn khởi kiện nhằm tạo điều kiện để anh y khắc phục khuyết điểm. Đến tháng 7 năm 2022, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân đến nay. Nhận thấy không còn tình cảm với anh y nên chị B yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Về hôn nhân: chị B yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thành Y .

- Về con chung: cháu Nguyễn Trung N đang sống chung với chị B nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N ; cháu Nguyễn Trung H đang sống chung với anh y nên chị đồng ý cho anh y tiếp tục nuôi dưỡng cháu H . Chị B không yêu cầu anh y cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Bị đơn anh Nguyễn Thành Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như: xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên vi phạm Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: qua xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tuyên: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Thành Y .

+ Về con chung: chị Nguyễn Thị B được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Trung N , sinh ngày 05/4/2022. Anh Nguyễn Thành Y được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Trung H , sinh ngày 25/3/2018. Chị B , anh y không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.

+ Về án phí: chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Thành Y có địa chỉ tại thị trấn N , huyện T , tỉnh A nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Nguyễn Thành Y đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, các lần triệu tập anh y đều vắng mặt, không lý do. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh y theo thủ tục chung.

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Thành Y chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn nên được Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn N , huyện T , tỉnh A cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 01/3/2018. Vì vậy, quan hệ hôn nhân của chị B và anh y phù hợp với quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Xét yêu cầu ly hôn của chị B thấy rằng, chị B và anh y sống hạnh phúc thời gian đầu nhưng đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do anh y không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu và nhiều lần đánh đập chị B . Vì vậy, chị B đã gửi đơn yêu cầu ly hôn với anh y nhưng do muốn duy trì hôn nhân nên chị B đã rút đơn khởi kiện. Sau khi rút đơn, chị B và anh y tiếp tục mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay.

Tại biên bản xác minh tình trạng cư trú ngày 09/01/2023, được Công an thị trấn N , huyện T xác nhận: anh Nguyễn Thành Y , sinh năm 1998 có đăng ký thường trú tại khóm Đ, thị trấn N , huyện T , tỉnh A . Hiện nay anh y đi làm thuê ở xa, thỉnh thoảng có về thăm gia đình.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần tống đạt hợp lệ cho anh y thông báo hòa giải nhằm tạo điều kiện cho anh và chị B hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, anh y không đến tham gia các phiên hòa giải và cũng không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được chung sống với chị B .

Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 09/01/2023 được đại diện khóm Đ , thị trấn N , huyện T , tỉnh A cung cấp như sau: chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Thành Y tiến đến hôn nhân vào năm 2018. Thời gian chung sống, chị B và anh y có 02 con chung tên Nguyễn Trung H và Nguyễn Trung N . Đến đầu năm 2022, chị B và cháu N về nhà cha mẹ ruột của chị B sinh sống. Cháu H đang sống chung với anh y . Mâu thuẫn giữa chị B , anh y thì địa phương không biết rõ.

Từ những nhận định tại mục [3], xét thấy quan hệ hôn nhân giữa chị B và anh y đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2019. Mặc dù chị B đã khuyên ngăn, gia đình hai bên cũng hòa giải nhưng giữa chị B và anh y vẫn sống ly thân, bỏ mặc nhau từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay. Tại phiên tòa, chị B vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh y , vì giữa 02 người không còn tình nghĩa vợ chồng. Xét, tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh y mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị B .

Về quan hệ con chung: chị B và anh y có 02 con chung tên Nguyễn Trung H , sinh ngày 25/3/2018 và Nguyễn Trung N , sinh ngày 05/4/2022. Chị B yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N , đồng ý để anh y tiếp tục nuôi dưỡng cháu H ; không yêu cầu anh y cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Cháu N dưới 36 tháng tuổi và đang sống chung với chị B . Cháu H đang sống chung với anh y . Do vậy, để tạo điều kiện cho sự phát triển về thể chất, tinh thần và không xáo trộn cuộc sống của các cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Bích; giao cháu N cho chị B chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu H cho anh y chăm sóc nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị B không yêu cầu anh y cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Chị B , anh y cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị B yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 8, 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B .

1.1. Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Thành Y .

Giấy chứng nhận kết hôn số 24, ngày 01 tháng 3 năm 2018 của Ủy ban nhân dân thị trấn N , huyện T , tỉnh A không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về con chung: chị B và anh y có 02 con chung tên Nguyễn Trung H , sinh ngày 25/3/2018 và Nguyễn Trung N , sinh ngày 05/4/2022.

Giao cháu Nguyễn Trung N cho chị Nguyễn Thị B tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu N đang sống chung với chị B ).

Giao cháu Nguyễn Trung H cho anh Nguyễn Thành Y tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu H đang sống chung với anh y ).

Chị B và anh y không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị B , anh Nguyễn Thành Y cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

1.3. Về tài sản chung: không có.

1.4. Về nợ chung: ghi nhận chị B xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Nguyễn Thị B , anh Nguyễn Thành Y vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011382 ngày 07/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T , tỉnh A (chị B đã nộp đủ).

3. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ