vanban.org

Bản án 53/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị O.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị O được ly hôn với anh Trần Thư V. Về con chung: Giao cháu Trần Lê Thu H, sinh ngày 02/10/2010 và cháu Trần Thư Q, sinh ngày 11/12/2013 cho anh Trần Thư V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi hai cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị O.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA H’LEO
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30/6/2023.
V/v: Kiện ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quốc Hà

Các Hội thẩm nhân dân gồm có: Ông Hoàng Tuyển

Ông Trần Hữu Linh

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Tiệp – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hai – Kiểm sát viên.

Ngày 30/6/2023, tại phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H’leo, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 88/2023/TLST-HNGĐ ngày 22/3/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị O – Sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn 10B, xã CA, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Thư V – Sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn 10B, xã CA, huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị trình bày: Chị O và anh V tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 21/02/2014 tại UBND xã CA, huyện EH. Sau thời gian chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Vì vậy chị O làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V.

Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng chị có hai người con chung là cháu Trần Lê Thu H, sinh ngày 02/10/2010 và cháu Trần Thư Q, sinh ngày 11/12/2013. Tại đơn khởi kiện chị O yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh chị mỗi người nuôi 01 cháu. Tuy nhiên sau đó chị O có đơn trình bày về việc đồng ý giao hai con chung cho anh V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu trưởng thành. Về cấp dưỡng, tài sản chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày: Về việc kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng theo đơn khởi kiện của chị O thì anh V đồng ý. Nay chị O yêu cầu ly hôn thì anh V đồng ý.

Về con chung anh Vương đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành.

Về cấp dưỡng, tài sản anh chị tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’leo:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về người tham gia tố tụng: Tòa án đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.

Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đầy đủ và đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị O. Cho chị O được ly hôn với anh Trần Thư V; Về con chung: Cần chấp nhận ý kiến của các đương sự về việc giao cháu Trần Lê Thu H, sinh ngày 02/10/2010 và cháu Trần Thư Q, sinh ngày 11/12/2013 cho anh V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về tài sản chung và nợ chung và cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đề cập xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị O đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Thư V là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét thấy, nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị O và anh Trần Thư V chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện năm 2014 tại UBND xã CA, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk. Đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Căn cứ lời khai của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng anh V, chị O đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị O về việc cho chị O được ly hôn với anh V.

Về con chung: Xét ý kiến của các đương sự về việc giao cháu Trần Lê Thu H, sinh ngày 02/10/2010 và cháu Trần Thư Q, sinh ngày 11/12/2013 cho anh Trần Thư V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Chị Lê Thị O có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung; nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị O phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81 và Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị O.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị O được ly hôn với anh Trần Thư V.

- Về con chung: Giao cháu Trần Lê Thu H, sinh ngày 02/10/2010 và cháu Trần Thư Q, sinh ngày 11/12/2013 cho anh Trần Thư V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi hai cháu đến tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi.

Chị Lê Thị O có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung; nợ chung: Chị Lê Thị O không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Lê Thị O phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0011192 ngày 17/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H’leo, tỉnh Đắk Lắk.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ