vanban.org

Bản án 53/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 07/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”. Xử phạt bị cáo Trần Xuân H 15 (mười lăm) tháng tù; tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ tại Bản án số 29/2021/HSST ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình; bị cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án xét xử bị cáo Trần Xuân H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG NINH
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/HSST
Ngày: 07 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn,

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Thuỳ và bà Nguyễn Thị Thương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Hoàn, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình. Tòa án án nhân dân huyện Quảng Ninh xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2022/QĐXX-ST, ngày 24 tháng 11 năm 2022 đối với:

Bị cáo Trần Xuân H, sinh ngày 08 tháng 8 năm 1992 tại X, Q, Quảng Bình, tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học v n: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị B; chưa có vợ con; tiền án: Có 01 tiền án, ngày 29/9/2021 bị Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22 tháng 8 năm 2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 22 tháng 8 năm 2022, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại khu vực nghĩa địa thuộc thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình có nghi v n về hoạt động ma tuý. Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện Quảng Ninh phối hợp với Công an xã X tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực nghĩa địa thuộc thôn X, xã X, đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, tổ công tác phát hiện đối tượng Trần Xuân H đi bộ từ đường Hồ Chí Minh vào khu vực nghĩa địa có biểu hiện nghi v n. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện bên trong túi quần bên phải của Trần Xuân H có 01 (một) túi nilon màu đen, bên trong có chứa 02 (hai) viên nén hình tròn dạng thuốc tân dược màu hồng. Trần Xuân H khai nhận toàn bộ số viên nén dạng thuốc tân dược màu hồng trên là ma tuý dạng hồng phiến, Hải mua của một người không rõ tên, tuổi, địa chỉ với giá 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) về c t gi u để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật liên quan.

Tại Kết luận giám định số 982/KL-KTHS ngày 29-8-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: 02 (hai) viên nén màu hồng dạng thuốc tân dược, trên bề mặt mỗi viên có khắc chữ “WY” là ch t ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,183 gam (không phẩy một trăm tám mươi ba gam) nằm trong danh mục các ch t ma túy, số thứ tự 323, Danh mục II, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, ngày 15-5-2018 của Chính phủ.

Tại Bản cáo trạng số 50/CT-VKS-MT, ngày 16 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Trần Xuân H về tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh giữ quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật phát biểu quan điểm, luận tội chứng minh bị cáo Trần Xuân H đã thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép ch t ma túy loại Methamphetamin, số lượng 02 viên, khối lượng 0,183 gam; Cáo trạng truy tố có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Xuân H mức án từ 12 đến 18 tháng tù, tổng hợp với hình phạt cải tạo không giam giữ tại bản án số 29/2021/HSST ngày 29 tháng 9 năm 2021 còn lại chưa thi hành được quy đổi 02 tháng 26 ngày tù, buộc bị cáo phải ch p hành chung hình phạt của hai bản án; áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi giám định.

Bị cáo Trần Xuân H nh t trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên, hối hận về hành vi phạm tội của mình, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sớm trở về hòa nhập cộng đồng, có điều kiện giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Ninh, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo thống nh t, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; phù hợp về thời gian, địa điểm và quá trình diễn biến của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 21 giờ 20 phút ngày 22 tháng 8 năm 2022, Trần Xuân H tàng trữ trong túi quần bên phải 02 (hai) viên nén tổng hợp dạng hồng phiến, có khối lượng 0,183 gam (không phẩy một trăm tám mươi ba gam) là ma túy loại Methamphetamine; do Trần Xuân H mua về c t gi u mục đích để sử dụng. Hành vi của Trần Xuân H thuộc lỗi cố ý, bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy của bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố c u thành tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các ch t ma túy, gây m t trật tự trị an xã hội. Bị cáo biết ma túy là loại ch t gây nghiện có nguy cơ gây hại r t lớn cho xã hội, Nhà nước c m sử dụng, nhưng bị cáo vẫn cố tình c t gi u để sử dụng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, tương ứng với tính ch t vụ án, tính ch t nguy hiểm của hành vi phạm tội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung, góp phần đ u tranh phòng, chống tệ nạn và các tội phạm về ma túy trong đời sống xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo có một tình tiết tăng nặng: Ngày 29/9/2021, bị Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích mà còn thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét th y, cần thiết cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để bị cáo có điều kiện cải tạo, sớm trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 55 và khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung của hai bản án.

Bị cáo Trần Xuân H khai nhận đã mua 02 viên ma tuý trên của một nam thanh niên không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở khu vực chợ C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình với giá 100.000 đồng nên cơ quan điều tra không có đủ căn cứ xác minh,điều tra, xử lý đối tượng bán ma tuý cho bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Khối lượng ch t ma túy thu giữ trong vụ án sau khi giám định còn lại 0,103g (không phẩy một trăm linh ba gam) là vật c m tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Xuân H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm c khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, khoản 1 Điều 55; khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân H phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân H 15 (mười lăm) tháng tù; tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ tại Bản án số 29/2021/HSST ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình; bị cáo đã thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ từ ngày 10 tháng 11 năm 2021, thời hạn ch p hành hình phạt cải tạo không giam giữ còn lại chưa thi hành 08 (tám) tháng 17 (mười bảy) ngày; được quy đổi thành thời hạn tạm giam là 02 (hai) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày. Buộc bị cáo phải ch p hành hình phạt chung của hai bản án 17 (mười bảy) tháng 26 (hai mươi sáu) ngày tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 22 tháng 8 năm 2022.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 0,103g (không phẩy một trăm linh ba gam) được đóng gói bằng túi nilon trong suốt và vỏ bao gói đã được niêm phong trong phong bì số 982/KL-KTHS; vật chứng trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Ninh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh ngày 18 tháng 11 năm 2022.

3. Án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Xuân H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ