- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đ T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2022/HS-ST Ngày 23 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Anh Vũ
Ông Trần Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
Bà Phan Tường Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 54b ngày 24/11/2022 đối với bị cáo:
Phạm Đ T, sinh ngày 07/6/1966, tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 15, khu P, phường P, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 06/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đ T (đã chết) và bà Đỗ Thị Y (đã chết); Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
+ Tại bản án hình sự sơ thẩm số 17 ngày 29/3/1990, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phú xử phạt T 08 năm tù về tội ”Cướp tài sản của công dân”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt là ngày 22/11/1989, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam 02 tháng 14 ngày (từ ngày 26/5/1989 đến ngày 10/8/1989). Đã chấp hành xong hình phạt chính và nộp xong án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự trong hình sự.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 85 ngày 27/4/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt T 12 năm tù về tội ”Cướp tài sản của công dân”, quản chế 05 năm. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/12/1997. Đã chấp hành xong hình phạt chính. Nộp xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 28/6/2006.
+ Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05 ngày 31/01/2013, Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ xử phạt T 08 năm tù về tội ”Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2012. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 11/6/2019. Đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự tháng 5/2013.
Bị tạm giữ từ ngày 22/6/2022 đến ngày 28/6/2022, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Phong Châu, thị xã Phú Thọ. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Trọng Đ, sinh năm 1985, địa chỉ: Khu 7, xã H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. ĐT: 0968 068 816; 0376 221 187. Vắng mặt.
- Anh Trần Công H, sinh năm 2000, hộ khẩu thường trú: Khu 5, xã H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Khu 7, xã H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; ĐT: 0333 383 672. Vắng mặt.
- Bà Hà Thị G, sinh năm 1980, địa chỉ: Khu 7, xã H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. ĐT: 0336 034 152. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 15 phút ngày 22/6/2022, tại phòng ngủ nhà chị Cao Thị Lan H, sinh năm: 1975 ở khu Q, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ phát hiện, bắt quả tang Phạm Đ T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích sử dụng bản thân và bán kiếm lời. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột, cục màu trắng (niêm phong bì số 1); 01 hộp giấy màu xanh trắng, có in chữ TH.MOATK, bên trong hộp có 01 cân điện tử dạng cân tiểu li, 01 gói giấy màu trắng chứa 01 túi nilon màu trắng, loại túi zip, có mép vuốt bịt kín bên trong có chất bột cục màu trắng (niêm phong bì số 2); 01 túi nilon màu xanh, loại túi zip có mép vuốt bịt kín, một mặt in chữ “Kỳ Đồng”, bên trong có 05 gói giấy đều chứa chất bột cục màu trắng (niêm phong bì số 3); 01 điện thoại Iphone màu đen gắn sim số 0862934336. Ngoài ra, tại khu vực trước cửa nhà chị H, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ còn phát hiện, kiểm tra đối với Trần Công H, sinh năm: 2000 trú tại khu 5, xã H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; tạm giữ của H 01 điện thoại VIVO màu xanh lắp sim số 0333383672, 01 xe mô tô BKS 19L1-5188 và 300.000 đồng. Tại thời điểm bị kiểm tra, H khai nhận đến nhà chị Cao Thị Lan H tìm T để mua ma túy, heroin nhưng chưa mua được. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và quyết định tạm giữ đối với Phạm Đ T theo quy định.
Phục vụ công tác điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ tiến hành trưng cầu phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ giám định mẫu vật thu giữ của T. Tại bản kết luận giám định số 823 ngày 24/6/2022, kết luận:
Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 gói giấy mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng trong bì niêm phong số 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,119 gam, loại heroin.
Chất bột, cục màu trắng chứa trong 01 túi nilon màu trắng có mép vuốt bịt kín, bên ngoài được gói giấy màu trắng trong bì niêm phong số 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 3,931 gam, loại heroin.
Chất bột, cục màu trắng chứa trong 05 gói giấy, trong đó có 02 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng và 03 gói giấy mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng, 05 gói giấy được đựng trong 01 túi nolon màu xanh, có mép vuốt bịt kín trong bì niêm phong số 3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là: 0,311 gam, loại heroin.
Heroin là chất ma túy nằm trong Danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Hoàn trả 0,095 gam (bì số 1), 3,655 gam (bì số 2) và 0,242 (bì số 3) chất bột, cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định được niêm phong, dán kín trong 01 bì giấy có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong tại các mép dán”.
Tại Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ, Phạm Đ T khai nhận: khoảng 1 tuần trước khi bị bắt, do có nhu cầu sử dụng và bán ma túy heroin nên T đến khu vực cổng bến xe Mỹ Đình, Hà Nội, mua 4.000.000 đồng ma túy heroin của một người đàn ông làm xe ôm. Sau đó, T về nhà ở khu Phú An, phường Phong Châu, thị xã Phú Thọ cho số ma túy heroin vừa mua được vào 01 túi nilon, dạng túi zip, có mép vuốt bịt kín; rồi lấy một phần ma túy chia nhỏ làm 07 gói giấy (03 gói mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng; 04 gói mặt ngoài màu trắng bạc, mặt trong màu trắng) cho vào 01 túi nilon màu xanh, dạng túi zip, có mép vuốt bịt kín, một mặt có in chữ “Kỳ Đồng”, số ma túy còn lại T vẫn để trong túi nilon màu trắng, dạng túi zip, có mép vuốt bịt kín, bọc bên ngoài giấy màu trắng và đặt trong chiếc hộp giấy màu xanh trắng, có in chữ TH.MOATK. Số ma túy mua được, T đã sử dụng một phần cho bản thân và 01 lần bán cho Trần Công H, cụ thể: khoảng 16 giờ ngày 21/6/2022 H dùng số điện thoại 0333383672 gọi đến số điện thoại 0862934336 của T hỏi mua ma túy heroin. T đồng ý hẹn H đến khu vực gần quán karaoke Trúc Xanh thuộc khu Q, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ để mua bán ma túy. Tại đây, H đưa T 200.000 đồng, T đưa lại cho H 01 gói ma túy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng. Sau khi có ma túy heroin, H sử dụng một mình hết. Đến khoảng 12 giờ ngày 22/6/2022, H tiếp tục gọi điện cho T hỏi mua ma túy heroin nhưng vì không muốn bán nên T nói với H là không có. Tuy nhiên H vẫn tự đến nhà của chị Cao Thị Lan H tìm T để mua ma túy thì bị Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ kiểm tra như trên. Lời khai của T phù hợp với lời khai của H, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy xác định cả Phạm Đ T và Trần Công H đều dương tính với ma túy heroin. Công an thị xã Phú Thọ đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T và H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đối với T, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng, T đã nộp phạt xong ngày 25/7/2022; đối với H, hình thức cảnh cáo.
Đối với Cao Thị Lan H sống chung như vợ chồng với Phạm Đ T, nhưng H và các con của H đều không biết T tàng trữ ma túy để sử dụng và bán cho H như trên nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Phú Thọ không có cơ sở xử lý mà chỉ nhắc nhở rút kinh nghiệm.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho T, do T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên không có cơ sở để tổ chức xác minh.
Cáo trạng số 44/CT-VKSTXPT ngày 03 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi: Hồi 12 giờ 30 phút, ngày 22/6/2022, tại khu Q, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 4,361 gam ma túy heroin có mục đích để bán thì bị tổ công tác Công an thị xã Phú Thọ phát hiện bắt quả tang, thu giữ. Trước đó, khoảng 16 giờ ngày 21/6/2022, cũng tại khu Q, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, bị cáo đã thực hiện hành vi bán 01 gói ma túy heroin cho Trần Công H với giá 200.000 đồng.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Đ T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Đ T từ 04 năm đến 05 năm tù, được trừ 06 ngày tạm giữ kể từ ngày 22/6/2022 đến ngày 28/6/2022.Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Đ T.
Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong đánh số 823/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ bên trong có 3,992 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; sim số 0862.934.336; sim số 0333383672; 01 hộp giấy màu xanh trắng, có in chữ TH.MOATK;
Tịch thu để bán sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại Iphone màu đen đã cũ, số imei: 352018073645596; 01 chiếc cân tiểu li;
Trả lại cho Trần Công H 300.000 đồng của H do lao động mà có.
Xác nhận ngày 03/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 19L1-5188 cho anh Hoàng Trọng Đ và trả lại chiếc điện thoại VIVO màu xanh cho bà Hà Thị G là hợp pháp.
Truy thu để sung vào ngân sách nhà nước số tiền Phạm Đ T đã bán trái phép chất ma túy mà có chưa thu hồi được là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở xác định:
Hồi 12 giờ 30 phút, ngày 22/6/2022, tại khu Q, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Phạm Đ T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 4,361 gam ma túy heroin có mục đích để bán thì bị tổ công tác Công an thị xã Phú Thọ phát hiện bắt quả tang, thu giữ. Trước đó, khoảng 16 giờ ngày 21/6/2022, cũng tại khu Q, phường Âu Cơ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Phạm Đ T đã thực hiện hành vi bán 01 gói ma túy heroin cho Trần Công H với giá 200.000 đồng. H đã một mình sử dụng hết gói ma túy nên không xác định được khối lượng ma túy T bán. Do vậy, T phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy gồm 01 lần bán cho H và khối lượng 4,361 gam ma túy heroin có mục đích để bán.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo hoàn toàn ý thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước.
Vì vậy có cơ sở và căn cứ pháp lý kết luận bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân, bị cáo không có tiền án, không có tiền sự nhưng có nhân thân như đã nêu trên.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Với các tình tiết nêu trên, áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ trong một thời gian, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội.
Bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị, nghề nghiệp không ổn định. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vấn đề dân sự và xử lý vật chứng của vụ án:
01 bì niêm phong đánh số 823 có 05 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán, bên trong có 3,992 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định, 01 hộp giấy màu xanh trắng, có in chữ TH.MOATK, được tịch thu để tiêu hủy;
Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone màu đen lắp sim số 0862.934.336 thu giữ của T, 01 sim số 0333383672 thu giữ của H. T, H dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, được tịch thu điện thoại để bán sung vào ngân sách nhà nước và tiêu hủy 02 sim nêu trên;
01 chiếc cân tiểu li T dùng vào việc phạm tội, được bán để sung vào ngân sách nhà nước; 300.000 đồng của H do lao động mà có, H định sử dụng để mua ma túy của T nhưng chưa kịp mua thì bị thu giữ, được trả lại cho H.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 19L1-5188 của anh Hoàng Trọng Đ, sinh năm 1985 trú tại khu 7, xã H, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ cho H mượn, anh Đ không biết H sử dụng để đi mua ma túy; Chiếc điện thoại VIVO màu xanh là của bà Hà Thị G cho H mượn, bà G không biết H sử dụng để gọi điện mua ma túy. Vì vậy ngày 03/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 19L1-5188 cho anh Đ và trả lại chiếc điện thoại VIVO màu xanh cho bà G là hợp pháp được xác nhận.
Truy thu để sung vào ngân sách nhà nước số tiền Phạm Đ T đã bán trái phép chất ma túy mà có chưa thu hồi được là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Đ T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Đ T 04 (Bốn) năm tù, được trừ 06 ngày tạm giữ kể từ ngày 22/6/2022 đến ngày 28/6/2022.Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Đ T.
2. Về bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong đánh số 823/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Phú Thọ bên trong có 3,992 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định; sim số 0862.934.336 thu giữ của Phạm Đ T; sim số 0333383672 thu giữ của Trần Công H; 01 hộp giấy màu xanh trắng, có in chữ TH.MOATK;
Tịch thu để bán sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại Iphone màu đen đã cũ, số imei: 352018073645596, 01 chiếc cân tiểu li đều thu giữ của Phạm Đ T;
Trả lại cho Trần Công H 300.000 đồng của H do lao động mà có.
Xác nhận ngày 03/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Phú Thọ đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 19L1-5188 cho anh Hoàng Trọng Đ và trả lại chiếc điện thoại VIVO màu xanh cho bà Hà Thị G.
Truy thu để sung vào ngân sách nhà nước số tiền Phạm Đ T đã bán trái phép chất ma túy mà có chưa thu hồi được là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
(Vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ngày 03/10/2022).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc hội số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016.
Bị cáo Phạm Đ T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Bị cáo; đương sự; - VKSND thị xã Phú Thọ; - VKSND tỉnh Phú Thọ; - Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ; - Cơ quan Thi hành án hình sự; Cơ quan thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ; - Sở tư pháp tỉnh; - Lưu hồ sơ, văn phòng, kế toán.ỘI T THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Chi THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Chi |