vanban.org

Bản án 53/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 28/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 91MT/09 đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định.

Trả lại bị cáo Lê Minh T 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng. (Theo Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 16 tháng 6 năm 2022 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, Hải Phòng) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Le Minh Tien - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 91MT/09 đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật hình sự trả lại
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/HS-ST
Ngày 28-6-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Bích Ngọc

Ông Nguyễn Trí

Thư ký phiên toà: Bà Ngô Trần Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Minh T, sinh năm 1971 tại Hải Phòng. Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 14B/26/292 L, phường K, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; chỗ ở hiện nay: Số 40/6/140 Đ, phường Đ, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V và bà Ngô Thị T (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị O (đã ly hôn) và 02 con; tiền án: Án số 70/2020/HS-ST ngày 12/8/2020 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Nhân thân: Án số 18/HSST ngày 15/02/2001, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 03 năm tù về tội Cướp giật tài sản; án số 115/HSST ngày 06/6/2006, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đều đã xóa án tích). Bị tạm giữ ngày 15/3/2022; tạm giam ngày 22/03/2022; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 45 phút ngày 14/3/2022, sau khi nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại nhà số 50/159 Đ, phường Đ, quận Lê Chân, Hải Phòng đang có một số đối tượng tụ tập có dấu hiệu nghi vấn, Công an phường Đông Hải kết đã hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Lê Chân tiến hành kiểm tra ngôi nhà trên. Tại thời điểm kiểm tra, phát hiện Lê Minh T đang đứng trong sân, sát cổng vào. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, T tự nguyện giao nộp 03 túi nilon đựng tinh thể trắng và 02 túi nilon đựng chất bột màu trắng (nghi là ma túy) ở túi quần đùi bên trái đang mặc. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus màu nâu BKS 15B4-070.54 và 01 điện thoại Iphone 6 màu vàng. Khi tổ công tác kiểm tra trong nhà đã thấy có Đặng Xuân T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số 50/159 Đ, phường Đ, quận Lê Chân, Hải Phòng (là chủ nhà); Bùi Mạnh H và Dương Thị T đang ngồi trên nền nhà trước mặt có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Bên trong chiếc coóng của bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá có chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với Lê Minh T và dẫn giải các đối tượng cùng vật chứng về trụ sở làm việc.

Tại Bản Kết luận giám định số 91/KLGĐ-MT ngày 18/3/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu số 1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,82 gam, là loại Methamphetamine; chất bột màu trắng của mẫu số 2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,88 gam, là loại Heroin.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Minh T khai nhận: Khoảng 16h00’ ngày 14/03/2022, Tiến đi xe máy BKS 15B4-07054 từ nhà đến khu vực ngõ 380 T, phường Hồ Nam, quận Lê Chân, Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến ngõ 380 T, Tiến đi đến cuối ngõ rồi rẽ trái, đi khoảng 20m nữa thì gặp 01 người nữ giới đang đứng ở ngoài đường. Do đã từng mua ma túy của người nữ giới này nên T lại gần hỏi mua của người nữ giới 03 túi ma túy đá giá 700.000 và 02 túi Heroine giá 400.000 đồng. Người nữ giới đồng ý. T lấy 1.100.000 đồng đưa cho người nữ giới. Nữ giới nhận tiền rồi đưa lại cho T 03 túi nilon màu trắng chứa ma túy đá và 02 túi nilon màu trắng chứa Heroine. T nhận 05 túi ma túy trên cho vào 01 túi nilon màu trắng T nhặt được dưới đất rồi cho vào túi quần đùi bên trái phía trước đang mặc. Sau đó, T điều khiển xe máy đi đến nhà Đặng Xuân T, sinh năm 1984, địa chỉ: Số 50/159 Đ, phường Đ, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng để mượn chiếc khoan. Đến nhà T, do cổng mở nên T tự đi vào trong nhà thì thấy trong nhà T có T và 02 người khác (Bùi Mạnh H và Dương Thị T) T không quen biết đang ngồi trên nền nhà trước mặt có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. T ngồi xuống cạnh T để hút thuốc lào và bảo T cho T mượn máy khoan. T đồng ý và bảo T đợi tí, T đi bộ ra ngoài cổng đợi T thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt giữ như đã nêu ở trên. T không nhìn thấy ai sử dụng ma túy và cũng không sử dụng ma túy tại nhà T.

Quá trình điều tra, Đặng Xuân T, Bùi Mạnh H, Dương Thị T khai phù hợp với nhau: Bùi Mạnh H và Dương Thị T đến nhà Đặng Xuân T chơi thì được Đặng Xuân T mời sử dụng ma túy. Trong khi 03 đối tượng đang ngồi trong nhà thì có T vào nhà. T ngồi xuống cạnh T để hút thuốc lào rồi, sau đó T ra cổng thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt giữ như trên.

Bản Cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 16/6/2022 Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố Lê Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận có hành vi tàng trữ trái phép ma túy, có tổng khối lượng 2,7 gam, là loại Heroine và Methamphetamine mục đích để sử dụng như đã khai tại cơ quan điều tra và cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Lê Minh T và đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Minh T mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 91 MT/PC09 đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định. Đối với 01 điện thoại thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 14/3/2022 Lê Minh T có hành vi cất giữ trái phép ma túy, có khối lượng 1,82 gam, là loại Methamphetamine và 0,88 gam, là loại Heroine. Tổng khối lượng bị cáo cất giữ trái phép là 2,7 gam, mục đích để sử dụng và bị bắt quả tang tại nhà số 50/159 Đ, phường Đ, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xử lý bắt cách ly khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản thân bị cáo có 03 tiền án, trong đó có 02 tiền án đã được xóa án tích; 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong số 91 MT/PC09 đựng ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên căn cứ vào khoản 3 Điều 106 Bộ luật hình sự trả lại cho bị cáo.

Đối với nữ giới bán ma túy cho Lê Minh T quá trình điều tra không xác định được căn cước, lai lịch; ngoài ra T còn khai trước ngày 14/3/2022 T đã từng mua ma túy của nữ giới trên, ngoài lời khai của T không còn lời khai nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra, làm rõ, HĐXX không xét.

Đối với hành vi của Đặng Xuân T cho Bùi Mạnh H, Dương Thị T sử dụng ma túy tại nhà T không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đặng Xuân T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus màu nâu BKS 15B4-07054, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là chị Hoàng Thu T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số 105 gác 2 L, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, chị T cho T mượn xe và không biết T sử dụng để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại chiếc xe trên cho chị T quản lý, sử dụng, HĐXX không xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Minh T 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 15 tháng 03 năm 2022.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 91MT/09 đựng số ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định.

Trả lại bị cáo Lê Minh T 01 điện thoại di động Iphone 6 màu vàng.

(Theo Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 16 tháng 6 năm 2022 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, Hải Phòng)

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ