- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Duy T - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Duy T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2022/HS-PT Ngày: 07/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang Thư
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Bích Vân
Ông Lương Phước Đại
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Xuân Lan – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 46/2022/TLPT-HS ngày 18 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo Phạm Duy T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 08/2022/HSST ngày 23/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phong Đ, thành phố Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo:
Phạm Duy T, sinh ngày 14/4/2002 tại An Giang. Nơi đăng ký thường trú: đường Phạm Ngũ L, phường An H, quận Ninh K, thành phố Cần Thơ; chỗ ở: ấp Thới T, xã Giai X, huyện Phong Đ, thành phố Cần Thơ; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: sinh viên; con ông Phạm Sơn T và bà Nguyễn Thị Phương T; em ruột có 01 người, sinh năm 2005. Bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
- Bị hại: Ông Lâm Hữu P, sinh năm 1971;
Địa chỉ: ấp Thới T, xã Giai X, huyện Phong Đ, thành phố Cần Thơ; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Phạm Sơn T, sinh năm 1970
2/ Bà Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1969
Cùng địa chỉ: đường Phạm Ngũ L, phường An H, quận Ninh K, thành phố Cần Thơ; Có mặt.
- Người làm chứng:
1/ Bà Lâm Thị C; Có mặt.
2/ Ông Trần Ngọc H; Vắng mặt.
3/ Ông Trần Hoàng T; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 09/01/2021, ông Lâm Hữu Pvà bà Lâm Thị C tham dự hòa giải tranh chấp đất đai với gia đình bà Nguyễn Thị Phương T tại quán cà phê của ông Dương Kỳ N thuộc ấp Thới T, xã Giai X, huyện Phong Đ, thành phố Cần Thơ. Một lúc sau, ông Phạm Sơn T (chồng bà T) chở theo con trai là Phạm Duy T đến quán xem hòa giải. Trong lúc hòa giải giữa Phạm Duy T và Lâm Hữu P cãi nhau, T dùng ly thủy tinh ném về phía P nhưng không trúng. P chạy về nhà lấy dao tự chế dài khoảng 60cm rượt chém Phạm Duy T và Phạm Sơn T thì được Trần Hoàng T can ngăn giữ P lại. T bỏ chạy về nhà (bên cạnh quán) thì P vùng vẫy khỏi tay Trần Hoàng T nên tiếp tục cầm dao tự chế đuổi theo T. T bỏ chạy về đến nhà thì vấp té nên T dùng tay phải cầm cục gạch ống (loại gạch xây dựng) ném trúng vào trán P làm P té ngã rớt cây dao. Bà C (vợ P) cầm dao lên quơ thì được mọi người can ngăn. P dùng gạch ném vào người T sau đó P được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ điều trị thương tích.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) cây dao dài 67cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 51cm một bề sắc, mũi nhọn, bản rộng lưỡi dài 4,5cm, cán dao bằng gỗ có quấn băng keo dài 16cm.
- 01 (một) cục gạch ống, kích thước (7,5x7,5x20)cm.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 44/TgT ngày 01/3/2021 của Trung tâm Pháp y thành phố Cần Thơ, xác định:
- Vết thương vùng trán, thái dương trái gây lún sọ đã được điều trị nội khoa. Hiện tại vết thương đã lành, để lại sẹo, vị trí lún sọ cal liền, không ghi nhận ảnh hưởng chức năng.
- Chấn thương vùng mắt phải đã được điều trị nội khoa. Hiện tại hết sưng nề, không còn vết tích trên da, không ảnh hưởng chức năng.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của ông Lâm Hữu P là 13% (mười ba phần trăm).
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 126/TgT ngày 19/6/2021 của Trung tâm Pháp y thành phố Cần Thơ (bổ sung cho bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 44/TgT ngày 01/3/2021) xác định tỷ lệ phần trăm của từng vết thương như sau:
- Vết thương vùng trán thái dương trái có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%.
- Lún xương sọ thái dương trái có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 09%.
- Chấn động não có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%.
- Chấn thương mắt có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 00%.
- Về dân sự: Lâm Hữu P yêu cầu Phạm Duy T bồi thường chi phí điều trị, ngày công lao động tổng cộng 30.000.000 đồng. Phạm Duy T chỉ đồng ý bồi thường tiền thuốc điều trị thương tích.
Đối với ông Phạm Sơn T, lời khai ban đầu khai nhận ông có dùng gạch ném về hướng ông P nhưng không biết có trúng hay không. Sau đó, ông khai nhận thương tích của ông P là do ông T gây ra, không phải Phạm Duy T. Quá trình điều tra, xác định lời khai của ông T không có căn cứ.
Đối với ông Lâm Hữu P thừa nhận có hành vi dùng dao rượt chém Phạm Duy T và dùng gạch ném trúng vào người T nhưng T không yêu cầu xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển xử lý hành chính đối với Lâm Hữu P.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 08/2022/HSST ngày 23/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phong Đ đã quyết định:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Duy T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Duy T 02 (hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường cho người bị hại 5.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, vào ngày 04/3/2022 bị cáo có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại bản án sơ thẩm theo hướng bị cáo không phạm tội. Đến ngày 26/5/2022, bị cáo có đơn kháng cáo bổ sung (thay đổi yêu cầu kháng cáo) thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo (theo đơn kháng cáo bổ sung).
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ, đúng người, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết cho bị cáo theo quy định và áp dụng đúng tình tiết giảm nhẹ. Mức án mà cấp sơ thẩm đã tuyên là phù hợp với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo thay đổi yêu cầu kháng cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng án treo để có cơ hội tiếp tục đi học; đồng thời cung cấp chứng cứ mới về bồi thường cho bị hại – Điều này thể hiện sự nhìn nhận sai lầm và có thiện chí sửa sai nên xem xét cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hơn nữa, trong vụ án xuất phát từ một phần lỗi lớn thuộc về phía bị hại. Đối chiếu quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa bản án sơ thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên vụ án được xem xét lại theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Duy T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 09/01/2021, từ mâu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai giữa gia đình bị cáo và gia đình bị hại, bị hại ông Lâm Hữu P dùng dao tự chế rượt đuổi bị cáo, trong lúc bỏ chạy bị cáo té (ngã) và đã nhặt cục gạch ống ném/chọi trúng vào vùng đầu của bị hại gây thương tích.
Theo Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 44/TgT ngày 01/3/2021 của Trung tâm Pháp y thành phố Cần Thơ, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với ông Lâm Hữu P là 13%.
Với hành vi nêu trên và tỷ lệ thương tích của bị hại, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo đề nghị xem xét lại bản án theo hướng bị cáo không phạm tội. Ngày 26/5/2022, bị cáo có đơn kháng cáo bổ sung thừa nhận hành vi phạm tội, cho rằng tuổi trẻ nông nổi nên gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bị hại, bị cáo rất ăn năn hối hận nên xin được hưởng án treo để có cơ hội tiếp tục học tập trở thành người có ích cho xã hội.
Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ nhận thức để biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng chỉ vì thiếu kiềm chế đã gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được Luật hình sự bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.
Chỉ từ mâu thuẫn trong tranh chấp đất đai giữa hai gia đình mà dẫn đến việc xô xát đánh nhau bằng hung khí nguy hiểm, chứng tỏ việc xem thường pháp luật của cả bị cáo và bị hại nên cần phải áp dụng một hình phạt tương xứng nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo; đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe không chỉ đối với bị cáo mà còn là bài học đối với những ai muốn giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực và phòng ngừa chung cho xã hội.
Quá trình tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và trong vụ án có lỗi của bị hại nên cấp sơ thẩm xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên xử mức hình phạt 02 năm tù là phù hợp.
Tuy nhiên, bên cạnh việc đồng ý và tự nguyện bồi thường về trách nhiệm dân sự (tại phiên tòa sơ thẩm) thì sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường (cung cấp Biên lai thu tiền số 007023 ngày 25/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Đ). Việc tích cực bồi thường khắc phục hậu quả cho thấy bị cáo đã nhìn nhận được sai phạm, có thiện chí hối lỗi và mong muốn sửa chữa sai lầm nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, bị cáo đang là sinh viên năm thứ 2 Trường Đại học Nam Cần Thơ, gia đình có cha bị cáo (ông Phạm Sơn T) thực hiện chế độ thờ cúng Liệt sĩ và bản thân bị cáo chưa có tiền án tiền sự; không là tình tiết giảm nhẹ nhưng cũng được Hội đồng xét xử cân nhắc khi áp dụng hình phạt.
Mặc dù, bị cáo nhận thức hành vi dùng gạch ống ném/chọi về phía bị hại có thể gây nguy hiểm cho người khác, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra nên được xác định bị cáo phạm tội với lỗi cố ý gián tiếp. Hơn nữa, nguyên nhân phát sinh tội phạm từ mâu thuẫn tranh chấp đất đai giữa gia đình bị cáo và gia đình bị hại, thực tế đã xảy ra xô xát khi bị hại đánh cha bị cáo vào thời điểm trước đó. Không chỉ thế, vào thời điểm xảy ra sự việc (ngày 09/01/2021) phía bị hại có vợ là bà Lâm Thị C đã có lời lẽ mang tính khiêu khích. Cụ thể: Khi chính quyền địa phương tiến hành xác minh và hòa giải tranh chấp đôi bên, bị cáo hỏi mẹ bị cáo “Vậy là xong hả mẹ?”, bà C liền trả lời “Không xong thì mày muốn đánh nhau hả gì?”; đồng thời lúc xảy ra cãi vả, bị hại đã trực tiếp cầm dao tự chế (dạng mã tấu) rượt đuổi bị cáo; khi bỏ chạy bị cáo té ngã và nhặt cục gạch ống ném/chọi về phía bị hại. Từ những tình tiết của vụ án cũng thấy rõ hành vi phạm tội của bị cáo là bộc phát nhất thời và hoàn toàn trong trạng thái bị động sau chuỗi hành vi quá khích của phía bị hại. Nên cần nghiêm khắc phê phán cách hành xử thái quá của phía bị hại. Qua vụ án cần tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân nhằm đảm bảo thực hiện nếp sống văn minh và đời sống văn hóa trên địa bàn.
Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo là nhất thời, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng. Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về chế định án treo, xét thấy: không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng có khả năng tự cải tạo, giáo dục và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; cũng là tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập trở thành người có ích cho xã hội. Qua đó để bị cáo nhận thức được chính sách khoan hồng của pháp luật, giúp bị cáo biết sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật và trở thành công dân tốt.
Về nơi cư trú của bị cáo:
Theo hồ sơ vụ án thể hiện: bị cáo có địa chỉ đăng ký thường trú tại đường Phạm Ngũ L, phường An H, quận Ninh K, thành phố Cần Thơ. Tại Văn bản của Công an xã Giai X ngày 30/5/2022 xác nhận: bị cáo hiện đang sinh sống tại ấp Thới T, xã Giai X, huyện Phong Đ, thành phố Cần Thơ nên Hội đồng xét xử điều chỉnh thêm địa chỉ nơi bị cáo đang cư trú và làm căn cứ xác định giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Giai X giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Từ những phân tích trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Duy T.
2. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Duy T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Phạm Duy T 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm. Thời hạn chấp hành thời gian thử thách án treo được tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân xã Giai X, huyện Phong Đ, thành phố Cần Thơ (là nơi cư trú của bị cáo) giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
* Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Căn cứ: khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Duy T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện KSND CC tại Tp. HCM; - Viện KSND Tp. Cần Thơ; - Cơ quan tiến hành tố tụng H. Phong Đ; - Sở Tư pháp Tp. Cần Thơ; - UBND xã Giai X; - Bị cáo; Bị hại; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Trang Thư |