- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Huyền ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 53/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30-8-2022 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LK, ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoang Thanh Tâm.
Ông Đinh Văn Thông
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố LK, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố LK, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố LK, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 289/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2022, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2022/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, năm sinh: 1995
Địa chỉ: Ấp An Phú 1, Xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
- Bị đơn: Anh Văn Tiến L, năm sinh: 1994.
Địa chỉ: Số 43, đường 12, Kp. Trung Tâm, phường Xuân Lập, TP. LK, tỉnh Đồng Nai.
(Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 18/5/2022, các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre vào năm 2017. Quá trình chung sống thời gian ngắn vợ chồng hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhận mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã xúc phạm lẫn nhau, anh L không lo lắng trong gia đình, anh thường ăn nhậu gây gỗ chửi bới chị nên cuộc sống hôn nhân ngày càng trầm trọng, đến tháng 2017 chị về mẹ ruột ở Bến Tre và sống ly thân cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh L.
- Về con chung: Có 01 con chung: Văn Thị Thanh Tuyền, sinh ngày 06/4/2017; Hiện nay chị đang nuôi dưỡng, sau khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không nợ ai và không ai nợ vợ chồng anh chị.
* Bị đơn anh Văn Tiến L mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng quá trình giải quyết vụ án không có văn bản trình bày ý kiến, không giao nộp tài liệu chứng cứ, đồng thời vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.
Theo biên bản xác minh và lấy lời khai của những người làm chứng là anh Nguyễn Hào Hiệp, sinh năm 1980 địa chỉ: KP Trung Tâm, phường Xuân Lập là anh rể của anh Văn Tiến L.
Vào năm 2017 chị H và anh L kết hôn với nhau. Anh và anh L sống trên thửa đất của cha mẹ cho, anh L đi làm xa thỉnh thoảng có về thăm nhà rồi lại đi. Quá trình chung sống anh chị H phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã xúc phạm lẫn nhau, đến tháng 2017 chị về mẹ ruột ở Bến Tre và sống ly thân cho đến nay.
Theo biên bản xác minh và lấy lời khai của những người làm chứng là bà Phạm Thị Tuyết, sinh năm 1963 địa chỉ: Xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre là mẹ ruột của chị H.
Vào năm 2017 chị H và anh L chung sống chung và có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Anh chị làm công nhân ở Bình Dương quen nhau và lấy nhau. Sau khi sinh con được khoảng 06 tháng thì anh L không tới thăm vợ con, không chu cấp tiền bạc và chị H ở với mẹ ruột ở Bến Tre và sống ly thân cho đến nay.
* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các hoạt động tố tụng về xác định quan hệ pháp luật, về tư cách tham gia tố tụng của đương sự, về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu theo thẩm quyền, thủ tục giao, gửi, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và người tham gia tố tụng tất cả đều đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các phần của phiên tòa sơ thẩm. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng và đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định. Nguyên đơn thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Về đường lối giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị cho chị H được ly hôn với anh L. Về con: Đề nghị giao con Văn Thị Thanh Tuyền, sinh ngày 06/4/2017 cho chị nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Đề nghị không xem xét. Về án phí: chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
Về thủ tục quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: chị Trần Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Văn Tiến L, vì vậy quan hệ quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh L có nơi cư trú tại: Khu phố Trung Tâm, phường Xuân Lập, thành phố LK, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố LK theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị H vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh L, đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L xác lập năm 2003 có đăng ký kết hôn theo luật định nên Hội đồng xét xử áp dụng các điều khoản của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh L được xác lập trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân TT. Xuân L, được cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2017. Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Nguyên đơn chị H yêu cầu ly hôn với lý do vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, chị đã bỏ về nhà cha mẹ ruột ở Bến Tre từ năm 2017. Từ đó cho đến nay vợ chồng không còn sống chung, tình cảm vợ chồng không còn. Lời khai của các nguyên đơn về mâu thuẫn vợ chồng phù hợp với kết quả xác minh của Tòa án, có đủ cơ sở xác định: Quá trình sống chung, vợ chồng chị H và anh L đã không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng. Do đó, có căn cứ để xác định, hôn nhân giữa anh L và chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2015, thì yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh L là có cơ sở chấp nhận.
Về con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị H và anh L có 01 người con là Văn Thị Thanh Tuyền, sinh ngày 06/4/2017, từ khi sinh cho đến nay chị là người chăm sóc nuôi dưỡng nên giao con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, chị H không có ý kiến gì về việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản: Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị H là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, do đó chị phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các điều 19, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Văn Tấn L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn với anh Văn Tiến L.
2. Về con chung: Giao con Văn Thị Thanh Tuyền, sinh ngày 06/4/2017 cho chị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị không yêu cầu.
Anh L có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở. Vì lợi ích của con, khi có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản: Tòa án không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: chị Trần Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị H đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số 0005668 ngày 18-5-2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố LK, tỉnh Đồng Nai. Chị H đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Hội thẩm nhân dân
Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - VKSND thành phố LK; - Chi cục THA thành phố LK; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã An Hòa Tây, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre , quyển số 53/2017 ngày 14- 7-2017) (để ghi vào sổ hộ tịch). - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hùng |