- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Phạm Thị D xin ly hôn, nuôi con đối với anh Trần Văn M"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị D, chị Phạm Thị D được quyền ly hôn anh Trần Văn M.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2022/HNGĐ-ST Ngày: 28/7/2022 V/v “Tranh chấp Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Chí Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Lương Phi Hùng
2. Ông Sơn Mứt
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Tiếm –Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Minh: không thuôc trường hợp tham gia phiên toà.
Trong ngày 28 tháng 7 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 41/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2022 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 45/2022/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm: 1980 Địa chỉ: Tổ 8, ấp Thạnh Lý, xã Đ, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long; xin vắng mặt .
2. Bị đơn: Anh Trần Văn M, sinh năm: 1975 Địa chỉ: Tổ 8, ấp Thạnh Lý, xã Đ, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 29 tháng 12 năm 2021 và quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Phạm Thị D trình bày:
Vào năm 1996, chị D và anh Trần Văn M được sự mai mối nên quyết định lấy nhau không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã M, tỉnh Vĩnh Long. Qúa trình chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Trần Thị Th, sinh năm 1996 và Trần Thanh M, sinh ngày 18/5/2004 hiện đang sống cùng mẹ. Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Lý do chị D yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh M là do vợ chồng khó khăn về kinh tế, thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm, tình cảm không thể hàn gắn lại được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 5 năm 2016 đến nay. Nay, chị D yêu cầu được ly hôn anh M; về con yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Trần Thanh M và không yêu cầu anh M cấp dưỡng, còn cháu Trần Thanh Th đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; về tài sản và nợ không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, chị D có đơn xin xét xử vắng mặt do bận công việc làm ăn và yêu cầu Tòa án giải quyết cho Chị được ly hôn anh M; về con yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Trần Thanh M, sinh ngày 18/5/2004 và không yêu cầu anh M cấp dưỡng, còn cháu Trần Thanh Th đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; về tài sản và nợ không yêu cầu giải quyết . Ngoài ra không có yêu cầu nào khác.
Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn anh Trần Văn M đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh M không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tòa án mở phiên tòa lần thứ nhất, anh M đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập nhưng vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa hôm nay, anh M đã được tống đạt hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt. Như vậy, anh M đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Giấy triệu tập hai lần nhưng vẫn vắng mặt và chị D có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt chị D và anh M là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh M do mai mối nên cưới nhau, không có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng có đăng ký kết hôn theo qui định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên quan hệ hôn nhân của chị D và anh M là hợp pháp. Tuy nhiên, quá trình hôn nhân, chị D và anh M thường xuyên cải vã, vợ chồng bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị D xin ly hôn anh M là có căn cứ nên chấp nhận là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, anh M đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án trình bày ý kiến cũng như không cung cấp các tài liệu chứng cứ thể hiện ý kiến đối với việc chị D yêu cầu ly hôn. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.
Về con chung: Chị D và anh M có 02 con chung tên Trần Thị Th, sinh năm 1996 và Trần Thanh M, sinh ngày 18/5/2004. Chị D yêu cầu tiếp tục được nuôi cháu Trần Thanh M và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con là phù hợp vì cháu M đang sống cùng mẹ và có nguyện vọng được sống với mẹ, để đảm bảo điều kiện phát triển của cháu M sau này nên chấp nhận chị D được quyền tiếp tục nuôi con chung và chị D không yêu cầu cấp dưỡng là sự tự nguyện và đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận; còn cháu Th đã trưởng thành và chị D không có yêu cầu nên không xem xét. Trong quá trình giải quyết vụ án bên phía bị đơn anh M không cung cấp ý kiến đến việc nuôi con nên chưa có căn cứ để xem xét.
Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí: Chị D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Khoản 2, Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị D, chị Phạm Thị D được quyền ly hôn anh Trần Văn M.
2. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị D, chị D được quyền nuôi con chung là cháu Trần Thanh M, sinh ngày 18/5/2004. Anh M chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Anh M có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở. Riêng cháu Trần Thị Th, sinh năm 1996 đã trưởng thành, chị D không yêu cầu nên không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị D phải nộp án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012509 ngày 04/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Minh, chị D đã nộp xong. Anh M không phải chịu án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn, Bị đơn được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAT. VL; - VKSTX.M;THADS.TXM; - UBND xã Đ; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Phan Chí Cường |