vanban.org

Bản án 53/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Huỳnh Thị Kim A đối với anh Trần Thiện B. Chị Huỳnh Thị Kim A được ly hôn với anh Trần Thiện B.

Về con chung: Giao cháu Trần Huỳnh Nhật C, sinh ngày 03-3-2011 cho chị A được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị A không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Anh B được quyền thăm nôm, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xuyen ly hon An"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Huỳnh Thị Kim A đối với anh Trần Thiện B. Chị Huỳnh Thị Kim A được ly hôn với anh Trần Thiện B.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/HNGĐ-ST.
Ngày 22-7-2022.
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Như Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Kỳ Trung;

Ông Nguyễn Xuân Tươi.

- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Văn Hảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thướng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 87/2022/TLST-HNGĐ ngày 31-5-2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Kim A, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ 4, ấp BH, xã PB, thị xã TR, tỉnh TN - có mặt.

Bị đơn: Anh Trần Thiện B, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp BH, xã PB, thị xã TR, tỉnh TN - vắng mặt có đơn xin.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim A trình bày: Chị và anh B chung sống với nhau năm 2009, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Bình Thạnh (nay là xã Phước Bình) vào năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng cha mẹ chồng ấp BH, xã PB, thị xã TR, tỉnh TN sống đến nay. Vợ chồng chị chung sống đến tháng 06-2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là anh B đi làm về thường xuyên uống rượu kiếm chuyện chửi bới, hâm dọa giết chị, chị có nói cha mẹ chồng nhưng không giải quyết được. Khi xảy ra mẫu thuẫn thì cha mẹ hai bên không có hòa giải cho vợ chồng. Từ tháng 6-2021chị bỏ về nhà mẹ ruột sống đến nay. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh B.

Về con chung: Vợ chồng 01 con chung tên Trần Huỳnh Nhật C, sinh ngày 03-3-2011; hiện cháu C hiện đang sống cùng chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.

Theo các lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Thiện B trình bày thể hiện trong hồ sơ: Anh thống nhất lời trình bày của chị A về ngày tháng chung sống, kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung và thời gian ly thân là đúng. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do chị A có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, anh có gặp mặt nói chuyện với người đó. Sau khi chị A bỏ đi anh có đến gặp chị A để nói chuyện hòa giải nhưng chị A không đồng ý.

Nay anh đồng ý ly hôn với chị A. Về con chung: tùy theo ý kiến của con theo ai thì người đó nuôi không phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng:

1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

2. Việc giải quyết vụ án:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A đối với anh B.

- Về con chung: Giao cháu Trần Huỳnh Nhật C, sinh ngày 03-3-2011 cho chị A được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị A không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng: bị đơn anh B vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh B là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về hôn nhân: Chị A và anh B tự chung sống từ năm 2009, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh (nay là xã Phước Bình), thị xã Trảng Bàng vào năm 2010. Vợ chồng chung sống đến tháng 06-2021 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do chị A cho rằng anh B ham mê uống rượu về kiếm chuyện chửi bới gây gỗ với chị. Anh B cho rằng chị A có quan hệ tình cảm với người khác. Cả chị A và anh B đều có yêu cầu được ly hôn. Từ đây cho thấy mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị A yêu cầu ly hôn với anh B, nhận thấy có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Cháu Trần Huỳnh Nhật C, sinh ngày 03-3-2011; hiện cháu C đang sống cùng chị A và chị A cũng yêu cầu được nuôi con. Xét cháu C đã trên 07 tuổi, qua làm việc cháu mong muốn được sống với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao chị A được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu C là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị A không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con

Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí: Chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Huỳnh Thị Kim A đối với anh Trần Thiện B. Chị Huỳnh Thị Kim A được ly hôn với anh Trần Thiện B.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Huỳnh Nhật C, sinh ngày 03-3-2011 cho chị A được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị A không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Anh B được quyền thăm nôm, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản và nợ chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị A phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị A đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0026627 ngày 31-5-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng.(Chị A đã nộp đủ án phí).

5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Cỡ chữ