vanban.org

Bản án 53/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh H.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh H được ly hôn anh Lê MH. Về con chung: Giao cháu Lê Minh, sinh ngày 26/6/2019 cho anh Lê MH trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK MIL
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/HNGĐ-ST
Ngày 19/9/2022
Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Cường và ông Bùi Khắc Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Toàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 162/2022/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thanh H, sinh năm 1992; địa chỉ: Số 151 T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lê MH, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai của nguyên đơn chị Lê Thị Thanh H trong quá trình giải quyết vụ án:

Chị Lê Thị Thanh H và anh Lê MH có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông năm 2018, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc. Trong thời gian chung sống chị H và anh H có 01 con chung tên Lê Minh, sinh ngày 26/6/2019. Chị H và anh H nảy sinh mâu thuẫn từ năm 2019, nguyên nhân do hai bên không có tiếng nói chung, hay xảy ra cãi nhau, chị H và anh H sống ly thân từ tháng 02/2022. Do đó chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lê MH; về con chung: Cháu Minh hiện đang sống cùng anh H, chị H đồng ý giao cháu Lê M cho anh Lê MH được quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; về tài sản chung, công nợ: Không có.

- Theo nội dung lời khai của bị đơn anh Lê MH trong quá trình giải quyết vụ án: Anh H và chị H có đăng ký kết hôn với nhau năm 2018 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép buộc, trong thời gian chung sống thì anh H và chị H có 01 con chung tên Lê M, trong thời gian chung sống hai bên không có tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi nhau, sống ly thân từ tháng 02/2022 đến nay.

Đối với yêu cầu khởi kiện của chị H thì anh H không đồng ý vì lý do chưa giải quyết xong việc riêng với chị H . Trường hợp Tòa án giải quyết cho anh H và chị H ly hôn thì nguyện vọng của anh H là được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lê M và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

*/ Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà xác định việc tuân thủ theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật

*/ Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị Thanh H, chị Lê Thị Thanh H được ly hôn với anh Lê MH.

- Về con chung: Giao cháu Lê M, sinh ngày 26/6/2019 cho anh Lê MH được quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu, nên không đặt ra để giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên không đặt ra để giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

- Về án phí: Chị Lê Thị Thanh H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, bị đơn anh Lê MH có địa chỉ tại Thôn M, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, do đó Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh H và anh Lê MH có đăng ký kết hôn vào năm 2018 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Đức Minh, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Trong thời gian chung sống chị H , anh H có 01 con chung tên Lê Minh, chị H và anh H đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay, điều này được anh H xác nhận. Chị H khẳng định không còn tình cảm với anh H, không muốn về đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên, anh H không đồng ý ly hôn vì chưa giải quyết xong việc riêng, nếu ly hôn anh H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung. Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị H và anh H đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình cho chị Lê Thị Thanh H ly hôn anh Lê MH.

- Về con chung: Anh H và chị H xác nhận có 01 con chung là Lê Minh, sinh ngày 26/6/2019; chị H đồng ý giao con cho anh Lê MH được quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; anh H cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Minh, hiện cháu Minh đang ở cùng với anh H, do đó cần giao cháu Lê Mcho anh Lê MH được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp hợp với quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu, nên không đặt ra để giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên không đặt ra để giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, nên không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Chị Lê Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên toà là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thanh H.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thanh H được ly hôn anh Lê MH.

2. Về con chung: Giao cháu Lê Minh, sinh ngày 26/6/2019 cho anh Lê MH trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Trong trường hợp anh H không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì trên cơ sở lợi ích của con, chị H hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định tại Điều 84, Điều 110; Điều 117 và Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình.

Chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở chị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trường hợp chị H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom.

3. Về án phí: Chị Lê Thị Thanh H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000921 ngày 14/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ