vanban.org

Bản án 53/2022/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 12/09/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Đ, công nhận bà Hoàng Thị Đ có quyền quản lý, sử dụng các thửa đất sau:

Thửa đất số 90, tờ bản đồ số 06 (bản đồ địa chính năm 2015), diện tích 1259,5m2, có địa chỉ tại tổ 01, Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Thửa đất số 126, tờ bản đồ số 35 (bản đồ địa chính năm 2015), diện tích 247,0 m2, có địa chỉ tại tổ 02, Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 53/2022/DS-ST Tuyên án 12/09/2022
Phúc thẩm Bản án 56/2022/DS-PT Tuyên án 29/12/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Hoàng Thị Đ - Đoàn Trọng X"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Đ, công nhận bà Hoàng Thị Đ có quyền quản lý, sử dụng các thửa đất sau:
  • Căn cứ chính? Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 100 Luật Đất đai; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/DS - ST
Ngày: 12/9/2022
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Luân Văn Lý

2. Ông Nông Văn Vụ

- Thư ký phiên tòa: Bà Bàng Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng: Bà Hoàng Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07, 12 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 13/2022/TLST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2022 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2022/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2022/QĐST-DSST ngày 31 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Đ - sinh năm 1938; Địa chỉ: Tổ 02 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Đã chết.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn:

1. Ông Hoàng Văn N

Địa chỉ: Tổ 02 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

2. Ông Hoàng Văn B

Địa chỉ: Tổ 02 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

3. Bà Hoàng Thị T

Địa chỉ: Tổ 02 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

4. Bà Hoàng Thị V

Địa chỉ: Thôn Hiệp Đạt, xã Q, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk.

5. Bà Hoàng Thị H

Địa chỉ: Thôn Hiệp Hưng, xã Q, huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk

6. Ông Hoàng Văn T

Địa chỉ: Thôn 15, xã T, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk

7. Bà Hoàng Thị T

Địa chỉ: Tổ 02 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

8. Bà Hoàng Thị H; Địa chỉ: xóm Héc Chang, xã Đ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.

9. Bà Hoàng Thị H

Địa chỉ: xóm Bản Gủn, xã N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

10. Ông Hoàng Văn C

Địa chỉ: Tổ 02 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện theo uỷ quyền của ông Hoàng Văn N, ông Hoàng Văn B, bà Hoàng Thị T, bà Hoàng Thị V, bà Hoàng Thị H, ông Hoàng Văn T, bà Hoàng Thị T: ông Hoàng Văn C (vắng mặt khi tuyên án) và bà Hoàng Thị H (có mặt) theo Giấy ủy quyền ngày 22/7/2022.

- Bị đơn: Ông Đoàn Trọng X - sinh năm 1959; Địa chỉ: Tổ 01 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Hoàng Minh Ngọc (vắng mặt khi tuyên án) và Luật sư Hà Thị Bào (vắng mặt), Văn phòng Luật sư Hoàng Minh Ngọc, Đoàn luật sư tỉnh Cao Bằng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đoàn Văn C; Địa chỉ: Tổ 01 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.

2. Bà Phương Thị L; Địa chỉ: Tổ 01 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.

3. Anh Đoàn Trọng L; Địa chỉ: Tổ 01 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.

4. Anh Đoàn Trọng L; Địa chỉ: Tổ 01 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt.

5. Bà Đoàn Thị X; Địa chỉ: Tổ 01 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.

6. Bà Đoàn Thị B; Địa chỉ: xóm 5 Bế Triều, thị trấn N, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.

7. Ông Hoàng Văn C; Địa chỉ: Tổ 02 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt khi tuyên án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn trình bày:

Bà Hoàng Thị Đ là con gái ông Hoàng Văn K (sinh năm 1908, chết năm 1980) và Hoàng Thị M (sinh năm 1918, chết năm 1949). Ông bà chỉ có một người con chung là bà Hoàng Thị Đ, sinh năm 1938.

Ông Hoàng Văn K nguyên quán tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Năm 16 tuổi ông trốn không đi lính, chạy lên Cao Bằng. Khi lên Cao Bằng ông ở nhờ nhà bà Hoàng Thị P và chăm sóc bà. Bà Hoàng Thị P có chồng nhưng đã chết sớm, có 01 con trai tên là Đoàn Đình X, năm 1944 đi bộ đội tham gia kháng chiến chống Pháp đã hy sinh khoảng năm 1950.

Khi ở với bà P, khoảng năm 1945 ông K được bà P chia cho hai đám ruộng để làm ăn riêng là đám Nà T(nay là thửa đất số 90, tờ bản đồ số 6, diện tích 1258,4 m2) và đám Nà C (nay chia thành 02 thửa là thửa đất số 126, tờ bản đồ số 35, diện tích 250,2 m2 và thửa đất số 138, tờ bản đồ số 35, diện tích 668,8 m2). Việc chia đất không có giấy tờ nhưng có nhiều người làm chứng được xác nhận tại đơn khiếu nại năm 29/01/1998, trong đó có người làm chứng Lưu Sĩ N (Tổ 01, Phường N, thành phố Cao Bằng) là còn sống, những người làm chứng khác đều đã chết.

Ông Hoàng Văn K và bà Hoàng Thị Đ canh tác các thửa ruộng trên từ khi được chia đất đến năm 1960 đưa vào hợp tác xã quản lý. Năm 1988 hợp tác xã giải thể, lúc này ông K đã chết nên bà Đ lấy lại đất và quản lý sử dụng đến nay. Đến năm 1998 phát sinh tranh chấp giữa gia đình bà Đ và gia đình ông Đoàn Hải L, tranh chấp đã được Uỷ ban nhân dân xã N, thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng hòa giải. Kết quả hòa giải là gia đình bà Đ có quyền sử dụng, được thể hiện tại biên lai thu phí ngày 14/3/1998 (do bà Hoàng Thị H dự và nộp tiền).

Quá trình quản lý sử dụng gia đình bà Hoàng Thị Đ đã kê khai các thửa đất trên trong sổ mục kê và các bản đồ địa chính, các thửa đất này đều mang tên gia đình bà Đ. Năm 2021 gia đình bà Đ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi làm đến thủ tục niêm yết công khai thì bị đơn biết và không nhất trí nên xảy ra tranh chấp. Do đó, bà Đ yêu cầu Tòa án công nhận bà có quyền sử dụng hợp pháp đối với các thửa đất nói trên.

Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đoàn Trọng X trình bày:

Ông Đoàn Văn H là em trai ông Đoàn Ngọc K (chồng của bà P). Ông Đoàn Văn H có con trai là Đoàn Hải L. Ông Đoàn Trọng X là con trai ông Đoàn Hải L.

Ông K và bà P có 01 con chung là Đoàn Đình X nhưng đã hy sinh năm 1950. Khi ông X hy sinh thì bà P nhận ông Đoàn Hải L là cháu để là con kế nghiệp (tại thời điểm đó ông K đã chết).

Việc ông K từ Lạng Sơn chạy nạn lên Cao Bằng từ năm 1950 và ở nhờ nhà bà P là đúng. Bà P cho ông K mượn 02 đám ruộng là Nà T (nay là thửa đất số 90, tờ bản đồ số 6, diện tích 1258,4 m2) và Nà C (nay chia thành 02 thửa là thửa đất số 126, tờ bản đồ số 35, diện tích 250,2 m2 và thửa đất số 138, tờ bản đồ số 35, diện tích 668,8 m2) để canh tác, việc cho mượn không có giấy tờ.

Đến khoảng năm 1969 bà P chết. Toàn bộ tài sản bà P để lại cho ông Đoàn Hải L thừa kế trong đó có 02 đám ruộng đang tranh chấp, việc chia đất không có giấy tờ, có họ hàng chứng kiến.

Hai thửa đất này năm 1960 bà P đưa vào hợp tác xã, khi hợp tác xã giải thể bà P đã chết nên ông Đoàn Hải L nhận lại đất. Lúc đó bà Đ nói với ông Đoàn Hải L là gia đình đông con, xin tiếp tục canh tác 02 thửa đất nên ông L đồng ý cho mượn. Năm 1998, xảy ra tranh chấp do ông L nhiều lần đòi đất bà Đ không trả, Uỷ ban nhân dân xã N, thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng hòa giải nhưng không thành. Sau đó, ông L có làm đơn khiếu nại viết năm 1998 gửi Uỷ ban nhân dân thị xã Cao Bằng nhưng đến nay chưa có phản hồi. Năm 1999 ông L chết, toàn bộ diện tích đất này thuộc về các con ông L.

Với những lý do trên, bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị nguyên đơn tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên đất để trả lại đất cho bị đơn.

Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Hoàng Thị Đ nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Đoàn Văn C, Phương Thị L, Đoàn Trọng L, Đoàn Trọng L, Đoàn Thị X, Đoàn Thị B nhất trí với ý kiến của ông Đoàn Trọng X.

Tại Biên bản xác minh ngày 25/5/2022, ông Đoàn Văn Duyên, tổ trưởng tổ 01 Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng cho biết: Nguồn gốc 03 thửa đất có tranh chấp đều là của bà Hoàng Thị P, bà P có chồng mất sớm và có 01 con trai là liệt sĩ, bà P ở một mình, có ông Hoàng Văn K đến ở cùng để giúp việc nhà, ông chỉ biết bà P giao cho ông K 03 thửa đất này để canh tác, còn cụ thể tặng cho hay canh tác nhờ thì ông không biết.

Tại Biên bản xác minh ngày 25/5/2022, ông Đoàn Văn Hộ, tổ trưởng tổ 02, Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng cho biết: Theo các cụ kể lại 02 thửa đất số 138, tờ bản đồ số 35 và thửa đất số 126, tờ bản đồ số 35 có nguồn gốc của bà Hoàng Thị P. Bà P cho ông K canh tác để trồng lúa nuôi gia đình từ khoảng sau năm 1954. Đến năm 1960 ông K đưa số đất này vào Hợp tác xã nông nghiệp Mạnh Ngọc thành phố Cao Bằng để làm ăn chung. Năm 1990 hợp tác xã giải thể, gia đình bà Đ nhận lại canh tác. Đến năm 1998 xảy ra tranh chấp do ông Đoàn Hải L đòi lại, sự việc được hoà giải ở Uỷ ban nhân dân xã N nhưng không thành. Năm 2020 bắt đầu phát sinh tranh chấp giữa bà Đ và ông X.

Tại Biên bản xác minh ngày 03/08/2022, bà Bế Thị Thu T – Công chức địa chính Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng cho biết:

Thửa đất số 90, tờ bản đồ 06, diện tích 1258,4m2 tên người sử dụng theo sổ mục kê đất đai năm 2016 là Hoàng Văn Khanh, theo sổ mục kê ruộng đất năm 1995 là thửa đất số 36, tờ bản đồ số 7, diện tích 1205m2 không có tên người sử dụng đất.

Thửa đất số 126, tờ bản đồ 35, diện tích 250,2 m2 tên người sử dụng theo sổ mục kê đất đai năm 2016 là Hoàng Văn C, theo sổ mục kê ruộng đất năm 1995 là thửa đất số 188, tờ bản đồ số 9, diện tích 924m2 có tên người sử dụng đất là Hoàng Văn Khanh.

Thửa đất số 138, tờ bản đồ 35, diện tích 668,8 m2 tên người sử dụng theo sổ mục kê đất đai năm 2016 là Hoàng Văn K, theo sổ mục kê ruộng đất năm 1995 là thửa đất số 188, tờ bản đồ số 9, diện tích 924m2 có tên người sử dụng đất là Hoàng Văn K.

Thửa đất số 188, tờ bản đồ số 9, bản đồ địa chính năm 1995 hiện nay là thửa đất số 126, tờ bản đồ 35 và thửa đất số 138, tờ bản đồ 35 theo bản đồ địa chính 2015.

Các thửa đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về quy hoạch: Thửa đất số 90 không nằm trong quy hoạch, thửa đất số 126 và 138 nằm trong quy hoạch khu lâm viên Kỳ Sầm.

Nhà cấp IV của ông Hoàng Văn C xây dựng trên thửa đất 126 chưa được cấp phép xây dựng do xây dựng trên đất trồng lúa.

Tại Biên bản xác minh ngày 06/9/2022, bà Nông Thị T – Công chức tư pháp Uỷ ban nhân dân Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng cho biết: Biên bản hoà giải tranh chấp đất đai giữa gia đình bà Hoàng Thị Đ và gia đình ông Đoàn Hải L năm 1998 Uỷ ban nhân dân phường không còn lưu giữ.

Hợp tác xã Mạnh Ngọc thành lập những năm 1960, giải thể khoảng những năm 1990. Hiện nay còn ông Phạm Ngọc H nguyên phó chủ nhiệm hợp tác xã còn sống.

Tại Biên bản xác minh ngày 06/9/2022, ông Phạm Ngọc H, nguyên phó chủ nhiệm Hợp tác xã Mạnh Ngọc cho biết: Thời điểm năm 1960 ông vẫn còn nhỏ, đến năm 1976 ông tham gia vào hợp tác xã nên những hộ đưa đất vào hợp tác xã năm 1960 ông không biết.

Đối với ông Lưu Sĩ N sau khi ông N nghỉ chế độ, từ năm 1976 ông N có tham gia vào Ban quản trị Hợp tác xã.

Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/5/2022 xác định:

Thửa đất số 90, tờ bản đồ 06, diện tích đo đạc thực tế là 1259,5m2, có địa chỉ tại tổ 01, Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Thửa đất số 126, tờ bản đồ 35, diện tích đo đạc thực tế là 247,0 m2, có địa chỉ tại tổ 02, Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Thửa đất số 138, tờ bản đồ 35, diện tích đo đạc thực tế là 672,9 + 45,5 = 718,4 m2, có địa chỉ tại tổ 02, Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Hiện trạng trên diện tích đất tranh chấp: Trên thửa đất số 90 có lúa do ông Hoàng Văn C trồng. Trên thửa đất số 138 có lúa do ông Hoàng Văn C trồng và có 01 kè đá hộc dài 22,2 mét.

Trên thửa đất 126 có 01 cây xoài, 02 cây mác mật, 01 cây mít và trồng một số cây rau theo mùa. Ngoài ra, có 01 nhà xây cấp IV 02 gian, cửa thép, sân bê tông, ngoài nhà có tường gạch xây trên kè đá hộc.

Biên bản định giá tài sản ngày 04/8/2022 kết luận tổng giá trị tài sản trên các thửa đất 126 và 138 là 428.044.064 đồng.

Tại phiên tòa:

Các bên đương sự vẫn bảo lưu ý kiến. Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn yêu cầu công nhận bà Hoàng Thị Đ có quyền sử dụng hợp pháp đối với 03 thửa đất tranh chấp và yêu cầu bị đơn không được có hành vi cản trở việc sử dụng đất của gia đình bà Đ.

Toàn bộ tài sản xây dựng trên thửa đất 126 và 138 do bà Hoàng Thị Đ xây dựng. Do đó, trường hợp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận thì bị đơn phải thanh toán cho bà Hoàng Thị Đ số tiền đã bỏ ra để xây dựng tài sản trên đất theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản.

Bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, trường hợp được sử dụng 03 thửa đất có tranh chấp thì bị đơn không nhất trí thanh toán tiền do nguyên đơn xây dựng công trình trái phép.

Đối với lúa trên thửa đất số 90 và thửa đất 138, các bên đương sự thống nhất thoả thuận sau khi gặt lúa xong sẽ giao đất cho người có quyền sử dụng đất.

Luật sư Hoàng Minh Ngọc trình bày luận cứ:

Về nguồn gốc đất: các bên đương sự đều thống nhất xác định các thửa đất có tranh chấp có nguồn gốc của bà Hoàng Thị P và ông Đoàn Ngọc K. Không có tài liệu gì chứng minh bà P cho đất ông K, ông K không phải em nuôi hoặc con nuôi hợp pháp của bà P do bà P chỉ cho ông K ở nhờ. Bà P đón ông Đoàn Hải L là con thờ tự, khi bà P còn sống ông L là người chăm sóc, khi chết lo mai táng và thờ cúng. Do đó, ông L được hưởng thừa kế của bà P.

Năm 1998 hai gia đình đã có tranh chấp, sau khi Uỷ ban nhân dân xã N, thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng hoà giải không thành, ông Đoàn Hải L tiếp tục có đơn gửi Uỷ ban nhân dân thị xã Cao Bằng từ năm 1998 đến nay chưa có trả lời nên vẫn đang trong giai đoạn tranh chấp.

Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không có căn cứ, đề nghị gia đình bà Đ phải trả lại phần đất có tranh chấp cho gia đình ông X. Về tài sản trên đất khi gia đình bà Đ xây nhà không có giấy phép xây dựng, là xây dựng trái phép nên không có căn cứ được bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều:

- Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

- Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 266, Điều 267, Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 .

- Điều 163, Điều 164, Điều 169 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Yêu cầu bị đơn chấm dứt hành vi cản trở quyền của nguyên đơn đối với diện tích đất thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn. Về án phí và chi phí tố tụng buộc bị đơn chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại thời điểm nguyên đơn khởi kiện, diện tích đất có tranh chấp thuộc tổ 01 và tổ 02, Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Do đó, theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Về nội dung

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

(1) Về nguồn gốc và diện tích đất tranh chấp:

Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều thống nhất xác định 03 thửa đất tranh chấp có nguồn gốc của bà Hoàng Thị P. Bà Hoàng Thị P (sinh năm 1895, chết năm 1969) có chồng là ông Đoàn Ngọc K (sinh năm 1901, chết năm 1954), có 01 con trai là Đoàn Đình X (sinh năm 1928, chết năm 1950). Sau khi chồng và con bà P chết, bà P nhận ông Đoàn Hải L làm con thợ tự. Ông Đoàn Hải L (sinh năm 1935, chết năm 1999) có vợ là Đoàn Thị H (sinh năm 1929, chết năm 2014), có 05 người con gồm: Đoàn Thị X, Đoàn Trọng X, Đoàn Thị B, Đoàn Văn C, Đoàn Văn Vịnh (chết năm 2011) có vợ là Phương Thị L, 02 con là Đoàn Trọng L và Đoàn Trọng L .

Bị đơn cho rằng khi bà P còn sống đã đưa 03 thửa đất tranh chấp vào Hợp tác xã Mạnh Ngọc năm 1960, đến khi chết đã để lại 03 thửa đất tranh chấp cho ông Đoàn Hải L quản lý sử dụng. Đến năm 1990 hợp tác xã giải thể ông L nhận lại đất. Lúc đó gia đình bà Đ đông con xin canh tác nhờ nên ông L đã cho gia đình bà Đ mượn để canh tác. Năm 1998 phát sinh tranh chấp do gia đình ông L đòi lại đất nhưng gia đình bà Đ không trả. Còn nguyên đơn cho rằng từ trước những năm 1945 ông K đã được bà P chia cho 3 đám ruộng để canh tác. Năm 1959 - 1960 ông K đưa 3 đám ruộng vào Hợp tác xã Mạnh Ngọc, đến khi Hợp tác xã giải thể gia đình bà Đ nhận lại và canh tác đến năm 1998 gia đình ông L đến ngăn cản không cho gia đình bà Đ làm 03 đám ruộng nên gia đình bà Đ đã làm đơn yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã N giải quyết, kết luận đất của gia đình bà Đ nên gia đình bà Đ tiếp tục quản lý, sử dụng đến nay.

Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn và bị đơn đều cho rằng được bà P chia cho 03 đám ruộng để canh tác nhưng đều không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh. Do đó, cần xem xét quá trình quản lý, sử dụng các thửa đất này để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án.

Căn cứ lời khai của ông Lưu Sĩ N, nguyên cán bộ Ban quản trị hợp tác xã Mạnh Ngọc cho thấy: nguồn gốc thửa đất số 126, tờ bản đồ số 35 ở tổ 2 Phường N là của ai thì ông không biết, còn thửa đất số 90 tờ bản đồ số 6 (đám ruộng Nà Thúm) có nguồn gốc là của bà Hoàng Thị P cho ông K, ông K là người về ở cùng với bà P từ rất lâu, đến năm 1959 ông K đưa thửa đất ruộng này vào Hợp tác xã canh tác cho đến khi hợp nhất Hợp tác xã Mạnh Ngọc. Khi tan hợp tác xã thì ông K vẫn quản lý sử dụng. Khi ông K chết, ông thấy bà Đ là người quản lý sử dụng thửa đất cho đến nay. Đồng thời, ông N cũng cung cấp cho Toà án sổ ghi chép Hợp tác xã năm 1960 do ông theo dõi, theo đó, ông Hoàng Văn K đưa vào hợp tác xã đám ruộng Nà T và Nà C.

Theo tờ khai diện tích tính thuế sử dụng đất nông nghiệp ngày 03/8/1994, bà Hoàng Thị Đ đã kê khai 2 đám ruộng Nà C và Nà T, đồng thời tại các sổ mục kê ruộng đất năm 1995, sổ mục kê năm 2016 đều thể hiện các thửa ruộng tranh chấp mang tên người sử dụng đất là ông Hoàng Văn K (chồng bà Đ) hoặc ông Hoàng Văn C (con trai bà Đ).

Như vậy, có căn cứ xác định gia đình bà Đ quản lý, sử dụng 03 thửa đất có tranh chấp từ trước năm 1959, đến năm 1998 ông L tranh chấp nên gia đình bà Đ gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã N yêu cầu giải quyết. Sau khi Uỷ ban nhân dân xã N hoà giải thì gia đình bà Đ tiếp tục quản lý sử dụng đến năm 2021 khi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ông X mới có ý kiến. Tại phiên tòa ông X cho rằng năm 1998 đã gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân thị xã Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng nhưng theo kết quả xác minh của Tòa án với Uỷ ban nhân dân thành phố Cao Bằng thì không có đơn ông L nộp tại Uỷ ban nhân dân thành phố Cao Bằng.

Như vậy, gia đình bà Đ đã quản lý, sử dụng 03 thửa đất có tranh chấp được hơn 60 năm nay và đã xây nhà kiên cố trên đất, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ cho thấy toàn bộ tài sản trên đất đều do gia đình bà Đ xây dựng, canh tác. Gia đình ông X cho rằng đất của gia đình ông X nhưng trong suốt thời gian dài ông không yêu cầu giải quyết tranh chấp nên không có căn cứ xác định các thửa đất này thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình ông X.

Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận nguyên đơn có quyền sử dụng đối với các thửa đất có tranh chấp.

Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 6.700.000 đồng (trong đó 4.000.000 đồng là chi phí cho đơn vị đo vẽ, 2.700.000 đồng là chi phí cho hội đồng xem xét thẩm định tại chỗ), chi phí định giá tài sản hết 1.500.000 đồng. Tổng cộng chi phí là 8.200.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 8.200.000 đồng. Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Hoàng Văn C đã nộp tạm ứng chi phí nên bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho ông Hoàng Văn C số tiền là 8.200.000 đồng.

Về án phí:

Bị đơn là người cao tuổi có yêu cầu miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 1, 2 Điều 161; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 26, Điều 100, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;

- Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị Đ, công nhận bà Hoàng Thị Đ có quyền quản lý, sử dụng các thửa đất sau:

Thửa đất số 90, tờ bản đồ số 06 (bản đồ địa chính năm 2015), diện tích 1259,5m2, có địa chỉ tại tổ 01, Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Thửa đất số 126, tờ bản đồ số 35 (bản đồ địa chính năm 2015), diện tích 247,0 m2, có địa chỉ tại tổ 02, Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Thửa đất số 138, tờ bản đồ số 35 (bản đồ địa chính năm 2015), diện tích 718,4 m2, có địa chỉ tại tổ 02, Phường N, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

(Có sơ đồ kèm theo)

Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Hoàng Thị Đ có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Bị đơn không được cản trở việc sử dụng đất của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của bà Hoàng Thị Đ.

2. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 8.200.000 đồng (tám triệu hai trăm nghìn đồng). Ông Hoàng Văn C đã nộp tạm ứng chi phí nên ông Đoàn Trọng X có trách nhiệm thanh toán lại cho ông Hoàng Văn C số tiền là 8.200.000 đồng (tám triệu hai trăm nghìn đồng).

3. Án phí: Bị đơn là người cao tuổi có yêu cầu miễn án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Các bên đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các bên đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ