vanban.org

Bản án 53/2022/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 06/04/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Bùi Thị Thu M. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2021/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đ nh chỉ yêu cầu phản tố của chị Nguyễn Thị Kim H1 và anh Nguyễn Duy L đối với bà Bùi Thị Thu M. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thu M yêu cầu anh Nguyễn Duy L và chị Nguyễn Thị Kim H1 cùng phải có nghĩa vụ liên đới tháo dỡ, di dời vật kiến trúc (m t phần bức tường đư c xây dang dỡ)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Đòi QSDĐ- Mười- Tám"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Bùi Thị Thu M. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2021/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 106 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2022/DS-PT
Ngày 06 - 4 - 2022
V/v tranh chấp “Đòi quyền sử dụng
đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hà

Các Thẩm phán:

Ông Cao Minh Lễ

Ông Đào Chí Keo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân là Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: Ông Huỳnh Thanh Phước - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 01 và 06 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 07/2022/TLPT-DS ngày 08 tháng 02 năm 2022 về việc tranh chấp “Đòi quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 205/2021/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 10/2022/QĐPT-DS ngày 08 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Thu M, sinh năm 1965 (Có mặt);

Địa chỉ cư tr : Tổ 15, ấp BC, xã BL, huyện CP, tỉnh AG

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, chết ngày 07/9/2019.

Địa chỉ cư tr : Tổ 15, ấp BC, xã BL, huyện CP, tỉnh AG

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà T:

2.1 Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1974 (Vắng mặt);

2.3 Chị Nguyễn Thị Kim H1, sinh năm 1983;

Cùng cư tr : tổ 15, ấp BC, xã BL, huyện CP, tỉnh AG

Người đại iện h p pháp của chị H1: Anh Nguyễn Duy c là người đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền ngày 18/5/2017(Vắng mặt).

3. Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan:

3.1 Ông Hồ Văn Ph, sinh năm 1954 (Vắng mặt);

Địa chỉ cư tr : tổ 15, ấp BC, xã BL, huyện CP, tỉnh AG

3.2 Ông Huỳnh Văn H2, sinh năm 1965 (vắng mặt);

Địa chỉ cư tr : số 13, đường số 05, khu vực ch CP, khóm VH, xã VTT, huyện CP, tỉnh AG.

3.3 Ủy ban nhân dân huyện CP, có trụ sở tại ấp VT, thị trấn CD, huyện CP, tỉnh AG.

Người đại diện h p pháp của Ủy ban nhân dân huyện CP: Bà Nguyễn Thị Ngọc L - Chức vụ Phó chủ tịch (Xin vắng mặt).

4. Người kháng cáo: Bà Bùi Thị Thu M là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là bà Bùi Thị Thu M trình bày:

Vào ngày 27/9/2001, bà M có nhận chuyển như ng của ông Huỳnh Văn H2 phần đất diện tích 48m2. Đến ngày 03/3/2005 đã đư c Ủy ban nhân huyện Châu Phú cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00111dF ngày 03/3/2005 cho bà Bùi Thị Thu M với diện tích 47,70m2, thửa đất số 128, tờ bản đồ số 03, mục đích sử dụng đất ở nông thôn, tọa lạc tại ấp Bình Chiến, xã Bình Long, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Do iấy chứng nhận quyền sử ụng đất của bà trùng số thửa 128 đất o ng ồ Văn Ph đứng tên, giấy chứng nhận quyền sử ụng đất của bà đư c cấp trước hơn của ng Ph, chỉ trùng số thửa trên giấy còn phần đất th đất của ng Ph liền kề nhà bà, nhà của bà n m giữa nhà của ng Ph và à T.

Tháng 12/2016, bà Nguyễn Thị T xây nhà lấn qua đất của bà ngang 0,2m x chiều ài 12m. Trước đây à yêu cầu bà T, anh L, chị H1 tháo dở bức tường đang xây dựng lấn qua ranh đất của bà với diện tích ngang 0,2m x dài 12m thu c giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà. Nay bà T đã chết, bà yêu cầu anh L, chị H1 phải tháo dỡ di dời công trình kiến trúc (bức tường) trên phần diện tích 0,2m x dài 4m để trả lại đất cho bà.

Bị đơn là bà Nguyễn Thị T (đã chết) có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là anh Nguyễn Duy L và chị Nguyễn Thị Kim H1 (chị H1 ủy quyền cho anh L) trình bày:

ia đ nh mẹ v anh là bà T đã sống trên phần đất này trước năm 1975, nhà ông cất đã lâu. Sau này khi 02 con của anh lớn cần mở thêm phòng ngủ nên mới xây thêm 02 phòng nhưng kh ng lấn qua phần đất của bà M. Phần đất của anh ngang 4,07m nhưng anh chỉ xây dựng 3,95m, vẫn còn n m trong phần đất của gia đ nh, kh ng lấn qua nhà của bà M. Phần vách tường nhà anh xây dựng thêm có chiều cao khoảng 2,8m o gia đ nh có khả năng ao nhiêu th xây ựng bấy nhiêu phần còn lại lên tới nóc là sử dụng vách tole nhà bà M, gia đ nh anh vẫn sử dụng từ trước đến nay, 02 mái nhà trên từ trước đến nay chồng khít lên nhau.

Nay anh chị xác định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, do anh sửa nhà đ ng iện tích đất mà gia đ nh anh đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo Bản vẽ hiện trạng ngày 02/7/2019 thì bà M có lấn chiếm đất của gia đ nh anh diện tích 0,5m2, trước đây anh có yêu cầu phản tố bu c bà M phải trả lại cho anh 0,5m2 đất nhưng nay anh xác định anh đã r t yêu cầu phản tố, không yêu cầu bà M trả lại phần diện tích bà M đã lấn chiếm.

Đối với yêu cầu của bà M, anh xác nhận có xây bức tường trong phần đất nhà anh nhưng theo kết quả đo đạc của Văn phòng Đăng ký đất đai đo vẽ thể hiện anh có lấn qua phần đất bà M 0,3m2 thì anh đồng ý phá bỏ bức tường để trả lại phần đất 0,3m2 cho bà M.

Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan:

Tại C ng văn số 177/UBND-TD ngày 13/3/2020 của UBND huyện Châu Phú trình bày: Ủy ban nhân huyện Châu Phú cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00111dF, tờ bản đồ số 03, thửa đất số 128, diện tích 47,70m2, loại đất thổ cư o à Bùi Thị Thu M đứng tên là đ ng tr nh tự thủ tục theo quy định. Tuy nhiên, qua kiểm tra thực tế sử dụng đất thì phần đất đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M đã sai vị trí so với bản đồ địa chính. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M đã xảy ra trường h p trùng thửa đất của ông Hồ Văn Ph (là thiếu sót trong việc kiểm tra, xác minh thực tế sử dụng đất). Thửa đất số 128 thu c giấy chứng nhận cấp cho ông Hồ Văn Ph là cấp đ ng vị trí sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện Châu Ph đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà M với lý do việc cấp giấy chứng nhận cho bà M trùng thửa đất, sai vị trí, diện tích và yêu cầu bà M đăng ký cấp giấy lại đ ng thực tế sử dụng đất.

Ông Hồ Văn Ph và ông Huỳnh Văn H2 không trình bày ý kiến.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 205/2021/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An iang đã tuyên xử:

Đ nh chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn chị Nguyễn Thị Kim H1, anh Nguyễn Duy L đối với bà Bùi Thị Thu M.

Chấp nhận m t phần yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thu M đối với anh Nguyễn Duy L, chị Nguyễn Thị Kim H1.

Bu c các bị đơn anh Nguyễn Duy L, chị Nguyễn Thị Kim H1 cùng phải có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời các công trình vật kiến trúc (01 phần bức tường đư c xây dang dỡ) trên diện tích đất 0,3m2 tại các điểm 2, 10, 15 của Bản đồ hiện trạng khu đất tranh chấp lập ngày 02 tháng 7 năm 2019 của Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh huyện Châu Phú.

Về chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ: Anh Nguyễn Duy L, chị Nguyễn Thị Kim H1 có trách nhiệm liên đới hoàn trả chi phí đo đạc lần 1 là 567.600 đồng; chi phí đo đạc lần 2 là 674.300 đồng; chi phí định giá và xem xét thẩm định tại chỗ 1.200.000 đồng cho bà Bùi Thị Thu M. Tổng c ng là 2.441.900 đồng.

Về án phí sơ thẩm:

+ Bà Bùi Thị Thu M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, đư c khấu trừ vào 300.000đ tạm án phí đã n p theo biên lai thu số 0017461 ngày 14 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

+ Anh Nguyễn Duy L, chị Nguyễn Thị Kim H1 phải liên đới chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, đư c khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã n p theo Biên lai thu số 0005567 ngày 13 tháng 11 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và thi hành án.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28 tháng 9 năm 2021 bà Bùi Thị Thu M n p Đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn b Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2021/DS-ST ngày 28/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

Các đương sự khác trong vụ án không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa và phát biểu ý kiến: Tại giai đoạn phúc thẩm những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đ ng các quy định của B luật Tố tụng dân sự và tuân thủ đ ng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, H i đồng xét xử đã thực hiện đ ng các quy định về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đ ng nguyên tắc xét xử, thành phần ĐXX, thư ký phiên tòa và thủ tục phiên tòa theo quy định của B luật Tố tụng dân sự.

Đề nghị H i đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308 của B luật tố tụng dân sự năm 2015 phúc xử: Chấp nhận kháng cáo của bà Bùi Thị Thu M, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2021/DS-ST ngày 28/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú. Chuyển toàn b hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Châu Phú giải quyết theo thẩm quyền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bà Bùi Thị Thu M kháng cáo và n p tiền tạm ứng án phí trong thời hạn luật định nên đủ cơ sở pháp lý để xem xét yêu cầu kháng cáo của bà M theo trình tự phúc thẩm.

Bị đơn là à Nguyễn Thị T (Đã chết) có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là anh Nguyễn Duy L và chị Nguyễn Thị Kim H1 (chị H1 ủy quyền cho anh c); người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan là ông Hồ Văn Ph, ông Huỳnh Văn H2 đã đư c Tòa án triệu tập h p lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do; Ủy ban nhân dân huyện Châu Phú có yêu cầu đư c vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 của B luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là bà Bùi Thị Thu M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn b Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2021/DS-ST ngày 28/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Về kháng cáo của bà M, xét thấy về nguồn gốc phần đất diện tích 47,70m2, thửa đất số 128, tờ bản đồ số 03, mục đích sử dụng đất ở nông thôn, tọa lạc tại ấp Bình Chiến, xã Bình Long, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã đư c Ủy ban nhân huyện Châu Phú cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00111dF ngày 03/3/2005 cho bà Bùi Thị Thu M. Do iấy chứng nhận quyền sử ụng đất của bà M trùng số thửa 128 là đất của ng ồ Văn Ph đứng tên, đất của bà M n m giữa nhà của ng Ph và à T. Bà M yêu cầu bà T (Đã chết) có con là anh L và chị H1 phải tháo dỡ, di dời vật kiến trúc (bức tường) để trả lại cho bà M phần đất diện tích (ngang 0,2m x dài 4m) 0,8m2 để cho bà sử dụng.

Về phần đất cặp ranh nhà bà M là của ông Long và bà T (Đều đã chết) có diện tích 45m2, thửa đất số 130, tờ bản đồ số 03, mục đích sử dụng đất ONT, tọa lạc tại ấp Bình Chiến, xã Bình Long, huyện Châu Phú, tỉnh An iang đã đư c Ủy ban nhân dân huyện Châu Phú cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00740dF ngày 20/7/2006 cho ông Nguyễn Văn ong (Cha của chị H1). Chị H1 và anh L thừa nhận có lấn qua phần đất của bà M diện tích 0,3m2 và anh chị đồng ý phá bỏ bức tường để trả lại cho bà M phần đất diện tích 0,3m2.

Tại C ng văn số 177/UBND-TD ngày 13/3/2020 của UBND huyện Châu Phú có n i dung Ủy ban nhân huyện Châu Phú cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00111dF, tờ bản đồ số 03, thửa đất số 128, diện tích 47,70m2, loại đất thổ cư o bà Bùi Thị Thu M đứng tên là đ ng tr nh tự thủ tục theo quy định. Tuy nhiên, qua kiểm tra thực tế sử dụng đất thì phần đất đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà M đã sai vị trí so với bản đồ địa chính. Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà M đã xảy ra trường h p trùng thửa đất của ông Hồ Văn Ph (là thiếu sót trong việc kiểm tra, xác minh thực tế sử dụng đất). Thửa đất số 128 thu c giấy chứng nhận cấp cho ông Hồ Văn Ph là cấp đ ng vị trí sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện Châu Ph đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà M với lý do việc cấp giấy chứng nhận cho bà M trùng thửa đất, sai vị trí, diện tích và yêu cầu bà M đăng ký cấp giấy lại đ ng thực tế sử dụng đất.

Như vậy, có cơ sở xác định phần đất của bà M đang quản lý, sử dụng (thửa đất số 129) chưa đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00111dF cấp cho bà M ngày 03/3/2005 có diện tích 47,70m2, tờ bản đồ số 03, thửa đất số 128, mục đích sử dụng đất ở nông thôn, tọa lạc tại ấp Bình Chiến, xã Bình Long, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đư c cấp trên đất của ông Hồ Văn Ph mà không đư c cấp giấy chứng nhận trên phần đất đang tranh chấp. Do đó, bà M yêu cầu anh L, chị H1 phải tháo dỡ, di dời bức tường có diện tích (ngang 0,2m x dài 4m) 0,8m2 (trong đó có phần đất diện tích 0,3m2 theo Bản đồ hiện trạng khu đất o Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh Châu Phú lập ngày 02/7/2019 thể hiện tại các điểm 2, 10, 15) nhưng à M không cung cấp đư c chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo nên kh ng có cơ sở để H i đồng xét xử chấp nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đề nghị hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2021/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Ph kh ng đư c H i đồng xét xử chấp nhận.

Các phần khác của bản án các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đư c giữ nguyên.

Từ những nhận định trên, H i đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2021/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú như đã nhận định trên.

Về chi phí tố tụng: Bà M phải n p số tiền 2.441.900 đồng chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ đư c khấu trừ vào tiền tạm ứng đã n p.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Án phí đư c khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã n p theo Biên lai thu số 0017461 ngày 14 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Anh L và chị H1 đư c nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã n p theo Biên lai thu số 0005567 ngày 13 tháng 11 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Yêu cầu kháng cáo của bà M kh ng đư c chấp nhận nhưng o sửa bản án dân sự sơ thẩm nên bà M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà M đư c nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã n p theo Biên lai thu số 0003268 ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào:

- Khoản 2 Điều 308, Điều 315 của B luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 245, Điều 247, Điều 248, Điều 249 của B luật Dân sự năm 2015;

- Điều 106, Điều 166, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013;

- Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc h i.

2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Bùi Thị Thu M. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 205/2021/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

3. Đ nh chỉ yêu cầu phản tố của chị Nguyễn Thị Kim H1 và anh Nguyễn Duy L đối với bà Bùi Thị Thu M.

4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị Thu M yêu cầu anh Nguyễn Duy L và chị Nguyễn Thị Kim H1 cùng phải có nghĩa vụ liên đới tháo dỡ, di dời vật kiến trúc (m t phần bức tường đư c xây dang dỡ) gắn liền với phần đất diện tích (ngang 0,2m và dài 4m) 0,8m2 (trong đó có phần đất diện tích 0,3m2 theo Bản đồ hiện trạng khu đất o Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh Châu Phú lập ngày 02/7/2019 thể hiện tại các điểm 2, 10, 15), tọa lạc tại ấp Bình Chiến, xã Bình Long, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

5. Về chi phí tố trụng: Bà Bùi Thị Thu M phải n p 2.441.900 đồng chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ đư c khấu trừ vào tiền tạm ứng đã n p.

6. Về án phí dân sự sơ thẩm:

6.1 Bà Bùi Thị Thu M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Án phí đư c khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã n p theo Biên lai thu số 0017461 ngày 14 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

6.2 Anh Nguyễn Duy L và chị Nguyễn Thị Kim H1 đư c nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã n p theo Biên lai thu số 0005567 ngày 13 tháng 11 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Bùi Thị Thu M không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bà M đư c nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã n p theo Biên lai thu số 0003268 ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Bản án ph c thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường h p bản án đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ