vanban.org

Bản án 53/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Tuyên án 23/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn Thanh phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2021/HS-ST
Ngày 23/6/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tòng Văn Quân.

Ông Vũ Trung Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lò Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Kiên, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Quàng Văn T (tên gọi khác: không), sinh năm 2000, tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: bản G, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn C ( đã chết) và bà Lò Thị H, sinh năm 1975; vợ, con: không; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 21/2/2021 đến ngày 02/3/2020 tạm giam cho đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 21/02/2021, Quàng Văn T đi bộ từ nhà ở bản G, xã L đến nhà Lò Văn M ở bản P, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên rủ M đi mua ma túy về sử dụng. Lò Văn M đồng ý và dùng xe mô tô nhãn hiệu Honda, Wave S, biển kiểm soát 27B1-783.17 của bà Quàng Thị T (mẹ M) làm phương tiện đi mua ma túy. Quàng Văn T điều khiển xe chở M đến hiệu cầm đồ tại bản M, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, T vào quán gặp anh Cao Văn C nhân viên hiệu cầm đồ đưa 01 chứng minh thư nhân dân và giấy tờ xe máy cầm với số tiền 200.000đ. Sau đó, T tiếp tục điều khiển xe chở M đến nhà một người đàn ông dân tộc Mông, tên K tại bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Qua trao đổi người đàn ông dân tộc Mông đồng ý bán ma túy cho T. T đưa cho người đàn ông đó 200.000đ và người đàn ông đó đi lấy ma túy về đưa cho M một gói Heroin. Sau khi mua được ma túy, M cầm giữ gói ma túy vừa mua được còn T điều khiển xe mô tô chở M quay về nhà. Đến khoảng 16 giờ, khi về đến bản M, xã M, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác công an xã M yêu cầu dừng xe kiểm tra, Lò Văn M ngồi sau liền ném gói ma túy ra phía trước xe rồi chạy trốn thoát. Tổ công tác lập biên bản, bắt giữ Quàng Văn T. Vật chứng thu giữ một xe máy biển kiểm soát 27B1-783.17 và một gói nilon màu trắng bên trong có các cục bột nén, trắng (nghi là Heroine).

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định chất ma túy ngày 21/2/2021 xác định: gói chất bột trắng thu giữ của Quàng Văn T có khối lượng là 2,67 gam, trích 0,13 gam gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 253/GĐ-PC09 ngày 27/2/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Quàng Văn T là ma túy loại Heroine; Vật chứng thu giữ của Quàng Văn T có khối lượng là 2,67 gam; Heroine thuộc danh mục các chất ma túy quy định tại Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ; không hoàn lại đối tượng giám định.

Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã điều tra làm rõ chiếc xe máy biển kiểm soát 27B1-783.17, T sử dụng đi mua ma túy là của bà Quàng Thị T, sinh năm 1977, trú tại bản P, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, bà T không biết việc bị cáo T sử dụng phạm tội nên đã ra Quyết định số 09/QĐ ngày 10/5/2021 trả lại chiếc xe trên cho bà T.

Quá trình điều tra, đã xác định được đối tượng đi cùng với Quàng Văn T bỏ chạy trốn thoát khi tổ công tác công an xã M yêu cầu dừng xe kiểm tra là Lò Văn M, sinh năm 1996, trú tại bản P, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. M hiện tại không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ hành vi của M.

Bị cáo T có khai người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tên là K, trú tại bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Nhưng cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại bản P không có ai có tên và đặc điểm như bị cáo khai.

Cáo trạng số: 25/CT-VKSĐBĐ ngày 12 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố Quàng Văn T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Quàng Văn T từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 2,54 gam Heroine còn lại sau giám định.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi của bị cáo Quàng Văn T thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21/2/2021; Biên bản cân xác định khối lượng, kết luận giám định số 253/GĐ-PC09 ngày 27/2/2021 và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định:

Ngày 21/2/2021, Quàng Văn T đã có hành vi đi mua Heroine về sử dụng, bị cáo đã mua được một gói Heroine có khối lượng 2,67 gam, chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Như vậy, bị cáo Quàng Văn T là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội nhưng vẫn cố tình vi phạm mua tàng trữ 2,67 gam Heroine, mục đích sử dụng nên đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố. Điều luật quy định.

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”…

. Xét tính chất hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo Quàng Văn T thuộc trường hợp nghiêm trọng, qua lời khai của bị cáo cho thấy bị cáo là người chủ động rủ và Lò Văn M trú tại bản P, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đi mua ma túy về sử dụng; bị cáo cũng là người điều khiển xe đi tìm mua ma túy và số tiền mua ma túy cũng là của bị cáo cắm giấy tờ xe mà có. Do đó, bị cáo sẽ chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Xét nhân thân của bị cáo thấy rằng bản thân chưa tiền án, tiền sự, tuổi đời còn trẻ sinh năm 2000, chưa xây dựng gia đình riêng, có có trình độ văn hóa nhất định học hết lớp 9/12 nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện dẫn đến đua đòi bạn bè nghiện chất ma túy từ năm 2018, từ nghiện chất ma túy mua tàng trữ sử dụng nên phạm tội như ngày hôm nay.

Khi bị phát hiện, bắt giữ cho đến phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; ông nội bị cáo là Quàng Văn C có công cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất nên đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt

Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Hình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo; bị cáo không có việc làm, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về vật chứng vụ án:

Số Heroine còn lại sau giám định là 2,54 gam là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó, cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-783.17 bị cáo Quàng Văn T sử dụng đi mua ma túy, qua điều tra đã làm rõ chiếc xe thuộc sở hữu của bà Quàng Thị T, sinh năm 1977, trú tại bản P, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên bà T không biết việc bị cáo T sử dụng phạm tội nên đã ra Quyết định số 09/QĐ ngày 10/5/2021 trả lại chiếc xe trên cho bà T là đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đ Đông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: bị cáo là dân tộc thiểu số, đang cư trú tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Các vấn đề khác trong vụ án: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra tuy đã xác định được đối tượng đi mua ma túy cùng với bị cáo Quàng Văn T là Lò Văn M, sinh năm 1996, trú tại bản P, xã L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên nhưng đối tượng không có mặt tại địa phương cho nên chưa điều tra xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T ( tên gọi khác: không) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 03 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/2/2021.

3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 2,54 gam Heroine ( đã trừ giám định). Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 16 giờ 0 phút ngày 12/5/2021 giữa cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ.

4. Căn cứ Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn T.

5. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Quàng Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/6/2021).

Cỡ chữ