vanban.org

Bản án 53/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 25/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! !!!!!!!!! CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!N!
QUẬN!THỐT!NỐT
!!!!!!!TP.!CẦN!THƠ!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2021/HS-ST
Ngày: 25/6/2021.

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!N!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!QUẬN!THỐT!NỐT!-!THÀNH!PHỐ!CẦN!THƠ!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Đức

2. Ông Huỳnh Văn Gốc!

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Ly!- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2021/HSST ngày 13 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ đối với bị cáo:

Nguyễn!Văn!N!(Vũ)!– sinh năm: 1997

ĐKTT: Khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn S – sinh năm: 1973 và bà Nguyễn Thị T – sinh năm: 1970; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2021 cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn!Văn!S!– sinh năm: 1973 (Có mặt)

Địa chỉ: Khu vực A, phường B, quận C, thành phố Cần Thơ.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 24/02/2021, Nguyễn Văn N ở nhà thuộc khu vực A, phường B, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ thì có người bạn tên Bí (chưa xác định được nhân thân) nhắn tin qua Facebook nhờ N mua giùm ma túy với số tiền 500.000đồng để sử dụng, N đồng ý. Sau đó, Nguyễn Văn N sử dụng điện thoại di động Iphone 5 có sim 0378.067.032 điện thoại cho người bạn tên N (ở lộ ông Chủ thuộc phường B) sim số 0762.856.489 hỏi mua ma túy và được người bạn tên N đồng ý. Khoảng 10 phút sau, người bạn tên Tiến (chưa xác định được nhân thân) nhắn tin qua Facebook nhờ Nguyễn Văn N mua giùm 200.000đồng ma túy để sử dụng. N tiếp tục gọi diện thoại cho người bạn tên N mua thêm ma túy với số tiền 200.000đồng. Đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, người bạn tên N đến nhà bị cáo Nguyễn Văn N để giao 02 gói ma túy. Sau khi nhận được ma túy, Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65F1-373.47 (mượn của cha là ông Nguyễn Văn S) đi đến quán cà phê Vườn Dâu thuộc khu vực Lân Thạnh 2, phường B, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ để đưa ma túy cho Bí và Tiến. Vào khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 24 tháng 02 năm 2021, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ phối hợp cùng Công an phường B, quận Thốt Nốt bắt quả tang Nguyễn Văn N cùng tang vật. Tang vật, tài sản thu giữ gồm: 01 gói nilon không màu, hàn kín có chứa tinh thể rắn không màu thu dới đất gần chỗ Nguyễn Văn N đang ngồi; 01 gói nilon không màu, hàn kín, có chứa tinh thể rắn không màu thu giữ trong bóp để trong túi quần của N; 01 xe mô tô biển số 65F1-373.47; 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng bị nứt màn hình, đã qua sử dụng liên lạc mua ma túy và 1.000đồng tiền Việt Nam (dùng quắn bên ngoài 01 gói ma túy cất giữ trong bóp, để trong túi quần).

Tại Kết luận giám định số 73/KL-PC09 ngày 03/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Cần Thơ kết luận: tinh thể không màu trong 02 gói nilon, gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,6545gam.

Tại cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 12/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, bị cáo cũng không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà có bổ sung thêm nội dung cáo trạng phần tang vật, tài sản thu giữ có thêm số tiền 1.000đồng (mà bị cáo dùng gói ma túy) và giữ nguyên các nội dung khác đã truy tố đối với bị cáo, không bổ sung gì thêm; đồng thời phát biểu ý kiến, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo nhưng chưa thể hiện sự ăn năn hối cải. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Về trách nhiệm hình sự:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số: 73/KL-PC09 ngày 03/3/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ có chứa ma túy còn lại sau giám định;

+ Đề tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng bị nứt màn hình, đã qua sử dụng và số tiền 1.000đồng của bị cáo N;

+ Đề nghị công nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt đã trả lại cho ông Nguyễn Văn S 01 xe mô tô biển kiểm soát 65F1-373.47 do ông S không biết bị cáo N sử dụng xe liên quan đến mua túy.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho bị cáo để bị cáo làm lại cuộc đời.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:!

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận Thốt Nốt, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, các biên bản ghi lời khai, biên bản khám xét và kết luận giám định.

[2] Về căn cứ buộc tội: bị cáo Nguyễn Văn N là đối tượng nghiện ma túy, vào ngày 24/02/2021, bị cáo N ở nhà thuộc khu vực A, phường B, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ sử dụng điện thoại Iphone 5 màu trắng gắn sim số 0378.067.032 điện thoại cho người tên N sim số 0762.856.489 mua 02 gói ma túy (gói 500.000đồng và gói 200.000đồng) mà theo bị cáo khai là do tên Bí và Tiến nhờ mua giùm để sử dụng chung. Đến khoảng 16 giờ 50 phút cùng ngày, người bán ma túy tên N đến nhà bị cáo N giao 02 gói ma túy. Sau khi nhận được ma túy, bị cáo N điều khiển xe mô tô biển số 65F1-373.47 đến quán cà phê Vườn Dâu chờ Bí và Tiến để giao ma túy, thì bị Cơ quan chức năng bắt thu giữ ma túy cùng một số tang vật liên quan. Tại Kết luận giám định số 73/KL-PC09 ngày 03/3/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: Tinh thế không màu trong gói nilon gửi giám định, là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,6545gam. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, việc đưa ra truy tố và xét xử bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, có sức khoẻ nhưng không chịu khó phấn đấu sống lành mạnh và có ích, lại tiêm nhiểm thói hư tật xấu, sa đà vào nghiện ngập. Mặc dù hoàn toàn nhận thức được tác hại của chất ma túy và biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật Nhà nước nghiêm cấm, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Ngoài ra, ma tuý còn là hiểm hoạ, là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức, lối sống; ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, sức khỏe, sự phát triển nòi giống của dân tộc và đời sống văn hóa lành mạnh của nhân dân; đồng thời cũng là nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội khác, tại phiên tòa bị cáo có thành khẩn nhận tội nhưng thái độ bị cáo chưa thể hiện sự ăn năn. Do đó, cần thiết phải xử lý nghiêm để đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật cũng như đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Đối với người tên Bí, Tiến nhờ Nguyễn Văn N mua ma túy giùm để sử dụng và người tên N có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Văn N, do chưa xác định được nhân thân cụ thể và đến nay chưa có kết quả thông tin của chủ thuê bao số điện thoại của người tên N do Nguyễn Văn N cung cấp nên chưa tiến hành làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, nếu có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.

[10] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[11] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

Tuyên!xử: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn!Văn!N!01!(một) năm!09!(chín)!tháng!tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 24/02/2021.!

Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy gói niêm phong số: 73/KL-PC09 ngày 03/3/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ có chứa ma túy còn lại sau giám định;

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 5 màu trắng bị nứt màn hình và số tiền 1.000đồng (Một ngàn đồng) của bị cáo N;

(Vật chứng tạm giữ hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/5/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thốt Nốt với Chi cục thi hành án dân sự quận Thốt Nốt).

- Công nhận Cơ quan điều tra Công an quận Thốt Nốt đã trả cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S 01 xe mô tô biển kiểm soát số: 65F1-373.47 xong.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội .

Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ