vanban.org

Bản án 53/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Thanh Xuân, TP. Hà Nội Tuyên án 23/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Danh H, Nguyễn Văn H, Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: - Điểm b, i khoản 2 Điều 251 (đối với bị cáo Sáng); điểm c khoản 1 Điều 249 (đối với bị cáo H, bị cáo H, và bị cáo T); Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự. 1.Xử phạt:Trần Xuân S 07 (bảy) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Xuân Sáng và đồng bọn - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Danh H, Nguyễn Văn H, Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH XUÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 53/2021/HS-ST
Ngày: 23/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Phúc

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Bình;

2. Ông Đỗ Quang Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng H - Thẩm tra viên Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Thanh Xuân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2021/HSST ngày 08/02/2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2021/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2021đối với các bị cáo:

1. TRẦN XUÂN S, giới tính: Nam- sinh năm 1977. HKTT: Số 3, ngách 25/8 phố C, phường N, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Chỗ ở: Số 24A, ngõ 55 phố Hh, phường N, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Xuân L; con bà: Đào Thúy H; vợ: Phạm Thị L; có 02 con: (lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011). Tiền án: không; Tiền sự: không. DCB số 466 lập ngày 22/10/2020 tại Công an quận Thanh Xuân; Bắt quả tang ngày: 20/10/2020; Tạm giam ngày: 30/10/2020. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số 2 Công an thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).

2. NGUYỄN DANH H, giới tính: Nam- sinh năm 1987. HKTT: B4/3 tập thể Đ, phường N, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Chỗ ở: Số 19 đường H, phường N, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Danh H; con bà: Nguyễn Thị C. Tiền án: không; Tiền sự: không. DCB số 467 lập ngày 22/10/2020 tại Công an quận Thanh Xuân; Bắt quả tang ngày: 20/10/2020; Tạm giam ngày: 30/10/2020. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số 2 Công an thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).

3. NGUYỄN VĂN H, giới tính: Nam, sinh năm 1987; ĐKHKTT: Xóm 11, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định ; Chỗ ở: ngách 100/56 phố A, phường T, quận Đống Đa, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn H; con bà: Vũ Thị T; Vợ: Trần Thị Thu H; có 03 con (con lớn sinh 2008; con nhỏ sinh 2019) Tiền án: không; Tiền sự: không. DCB số 469 lập ngày 23/10/2020 tại Công an quận Thanh Xuân; Bắt quả tang ngày: 20/10/2020; Tạm giam ngày: 30/10/2020. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số 2 Công an thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).

4. ĐỖ VĂN TRƯỞNG, giới tính: Nam, sinh năm 1996. ĐKHKTT: Xóm 3, xã H, huyện X, tỉnh Nam Định ; Chỗ ở: Số 83, ngõ L, phường T, quận Đống Đa, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Văn C; con bà: Nguyễn Thị O. Tiền án: không; Tiền sự: không. DCB số 468 lập ngày 23/10/2020 tại Công an quận Thanh Xuân; Bắt quả tang ngày: 20/10/2020; Tạm giam ngày: 30/10/2020. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại giam số 2 Công an thành phố Hà Nội (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 20/10/2020, tổ công tác Công an phường Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội đang làm nhiệm vụtại khu vực ngã ba Nguyễn Trãi-Khương Đình, Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội, phát hiện Đỗ Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 18F1-394.48 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, T tự giác lấy từ túi quần phía trước bên trái đang mặc chiếc điện thoại di động Iphone 7 màu đen, trong ốp lưng điện thoại có01 túi nilon chứa các tinh thể màu trắng và khai đó là ma tuý tổng hợp dạng “đá” vừa mua của Trần Xuân S tại số 24A, ngõ 55, Chính Kinh, phường Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ, biên bản niêm phong tang vật,đồng thời đưa T về trụ sở để giải quyết.

Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 20/10/2020, tổ công tác Công an phường Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội đang làm nhiệm vụ, phát hiện Nguyễn Văn H điều khiển xe máy Attila, màu vàng, BKS: 30K6 – 6964 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chínhtại trước số 07 Chính Kinh, phường Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân, Hà Nội. Quá trình kiểm tra, H tự giác lấy từ tay trái của mình 01 gói giấy bên trong chứa tinh thể màu trắng giao nộp cho Cơ quan Công an và khai nhận đó là ma túy “đá” mình vừa mua của Trần Xuân S tại số 24A, ngõ 55, Chính Kinh, phường Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ, biên bản niêm phong tang vật,đồng thời đưa H về trụ sở để giải quyết.

Căn cứ tài liệu thu thập được, khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/10/2020, tổ công tác Công an phường Nhân Chính phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý – Công an quận Thanh Xuân tiến hành kiểm tra hành chính tại số nhà 24A ngõ 55 Chính Kinh, phường Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội của Trần Xuân S phát hiện Bạch Đăng C (SN: 1990; Trú tại: 33 đường K, Hà Đông, Hà Nội) đang mở cửa tầng 1 để đi ra ngoài. Tiến hành kiểm tra C không phát hiện và thu giữ gì. Tại tầng 2, tổ công tác thấy Nguyễn Danh H đang ngồi trong phòng ngủ nên đã tiến hành kiểm tra và phát hiện bên trong túi quần bên trái phía trước H đang mặc có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng. H khai nhận đây là ma tuý tổng hợp dạng “đá” vừa mua của Trần Xuân S với giá 400.000đ để sử dụng. Tiếp tục kiểm tra tầng 3 phát hiện Trần Xuân S đang ngồi trong phòng ngủ nên đã tiến hành kiểm tra và phát hiện, thu giữ ở túi quần bên trái phía trước của Sđang mặc 01 ví vải màu trắng bên trong có 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng. Skhai nhận tinh thể màu trắng là ma tuý “đá” Smua về để bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản, thu giữ, niêm phong toàn bộ số tang vật và đưa T, H, C về trụ sở để giải quyết.

Tang vật thu giữ gồm:

- Thu giữ của Đỗ Văn T:

+ 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng.

+01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, có ốp lưng màu đen, số IMEI: 355325080965728, bên trong lắp sim số 0357.451.124.

+01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 18F1-394.48, SK: RLHJA3919LY167302; SM: JA39E-1505157.

- Thu giữ của Nguyễn Văn H:

+01 gói giấy bên trong có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng.

+01 xe máy nhãn hiệu Attila, màu vàng, BKS 30K6-6964, SM: VMVTBA-D019323, SK: 019323;

+01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S7, màu đồng, IMEI 1: 357224074315859, IMEI 2: 357225074315856, lắp sim số 0983118799;

- Thu giữ của Trần Xuân S:

+01 túi nilon kích thước 2x2,5cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng

+01 túi nilon kích thước 5x10cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng

+01 túi nilon kích thước 5x7cm, bên trong chứa 5 túi nilon kích thước 1,5x2,5cm

+01 cân điện tử màu đen

+01 cóong thuỷ tinh dài khoảng 17cm

+01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, IMEI 1: 864267044152833; IMEI 2: 864267044152825

+01 ví vải màu trắng

+Số tiền 3.700.000 đồng

- Thu giữ của Nguyễn Danh H:

+01 túi nilon kích thước khoảng 2x2,5cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng.

+01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A9 màu xanh, IMEI 1: 355085101027706; IMEI 2: 355086101027704.

+Số tiền 600.000 đồng

Lần lượt tại cácbản kết luận giám định số 9134, 9133, 9135, 9136/KLGĐ-PC09 ngày 26/10/2020 của phòng Kỹ thuật hình sự công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (thu giữ của Đỗ Văn T) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,201 gam.

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon(thu giữ của Nguyễn Văn H) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,270 gam.

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (thu giữ của Nguyễn Danh H) là ma tuý loại Methamphetamine có khối lượng 0,425 gam.

- Tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon là ma tuý loại Methamphetamine có tổng khối lượng 4,768 gam, 01 cân điện tử màu đen và 01 cóong thuỷ tinh có dính ma túy loại Methamphetamine(thu giữ của Trần Xuân S).

Tại Cơ quan điều tra, Trần Xuân S khai nhận: Ngày 18/10/2020, 01người bạn xã hội tên H (không rõ tên, địa chỉ cụ thể) đến nhà Stại số 24A, ngõ 55, phố C, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội và bán cho S01 gói ma túy đá với giá 3.200.000đ. Sau đó, S sử dụng cân điện tử màu đen chia nhỏ ma túy trên ra để bán cho khách kiếm lời. Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 20/10/2020, T sử dụng số điện thoại 0357451124 gọi đến số 0903252131 của S hỏi mua ma tuý. S đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 18F1-394.48 đi đến nhà S tại số 24A ngõ 55 Chính Kinh. Tại đây, T đưa 200.000đ qua khe cửa và được S đưa 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy “đá”. T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng ma túy nhưng chưa kịp sử dụng thì bị kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.Đến khoảng 12 giờ ngày 20/10/2020, Nguyễn Văn H mượn điện thoại di động của cháu là Phạm Quyền L (SN 2004, trú tại: ngách 100/56 phố T, Quang Trung, Đống Đa, Hà Nội) gọi điện đến số 0903252131 của Shỏi mua 200.000đ ma tuý “đá’. S đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe máy Attila, màu vàng, BKS: 30K6 – 6964 đến nhà S. H đưa 200.000đ qua khe cửa và được S đưa 01 gói giấy bên trong có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng là ma túy “đá”. H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng ma túy nhưng chưa kịp sử dụng thì bị kiểm tra, phát hiện, bắt giữ.Đến khoảng 13 giờ cùng ngày 20/10/2020, Bạch Đăng C đến nhà S tại số 24A ngõ 55 Chính Kinh để chơi, một lúc sau Nguyễn Danh H đến nhà S. Do bản thân Sáng, H, C đều nghiện ma túy nên khoảng 14 giờ cùng ngày, S mang ma túy đá của S lên tầng 3 để C, S và H cùng nhau sử dụng. Sau đó, S bán cho H 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa các chất tinh thể màu trắng là ma túy “đá” với giá 400.000 đồng để H mang về sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan công an kiểm tra nhà Sphát hiện, bắt giữ H, S cùng toàn bộ tang vật. Ngoài ra, S còn khai nhận đã bán ma túy từ khoảng giữa năm 2020. Do Smua ma túy vừa để sử dụng vừa bán cho khách nên không xác định được số tiền S hưởng lợi là bao nhiêu.

Quá trình điều tra, Đỗ Văn T, Nguyễn Văn H, Nguyễn Danh H khai nhận phù hợp với lời khai của Trần Xuân S, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra, T và H khai nhận đãnhiều lần mua ma túy của Sđể sử dụng. H khai nhận ngày 20/10/2020 là lần đầu mua ma túy của S để sử dụng.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSTX ngày 03/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân- thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Trần Xuân S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251- Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Danh H, Đỗ Văn T và Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249- Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân sau khi phân tích, đánh giá toàn bộ tình tiết nội dung vụ án, vẫn giữ nguyên quan điểm theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 251; Điều 38 – Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo S từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38- Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo H từ 13 (mười ba) đến 15 (mười lăm) tháng tù; bị cáo H, và bị cáo T mỗi bị cáo từ 12 (mười hai) đến 14 (mười bốn) tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47- Bộ luật hình sự; Điều 106- Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 5,664 gam ma túy Methamphetamine; 01 cân điện tử màu đen; 01 coóng thủy tinh;01 túi nilon kích thước 5x7cm, bên trong chứa 5 túi nilon kích thước 1,5x2,5cm; 01 ví vải màu trắng. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng Sbán ma túy cho các bị cáo; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S7, màu đồng, IMEI 1: 357224074315859, IMEI 2: 357225074315856, lắp sim số 0983118799; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, IMEI 1: 864267044152833; IMEI 2: 864267044152825; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, có ốp lưng màu đen, số IMEI: 355325080965728, bên trong lắp sim số 0357.451.124. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Danh H 01điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A9 màu xanh, IMEI 1: 355085101027706; IMEI 2: 355086101027704 và số tiền 600.000 đồng; Trả lại cho Trần Xuân Ssố tiền 2.900.000 đồng (hai triệu chín trăm nghìn đồng) không liên quan đến vụ án.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Trần Xuân Sáng, Nguyễn Danh H, Nguyễn Văn H và Đỗ Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, tang vật vụ án, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:

Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 20 phút ngày 20/10/2020 đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/10/2020, tại số nhà 24A ngõ 55 Chính Kinh, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội, Trần Xuân S có hành vi bán cho Đỗ Văn T 0,201 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang tại khu vực ngã ba Nguyễn Trãi - Khương Đình, Thượng Đình, Thanh Xuân, Hà Nội; bán cho Nguyễn Văn H 0,270 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang tại trước số nhà 07, Chính Kinh, Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân, Hà Nội, bán cho Nguyễn Danh H 0,425 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang tại số nhà 24A ngõ 55 Chính Kinh, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội.

Ngoài ra, Cơ quan công an thu giữ trong người Trần Xuân S 4,768 gam ma túy Methamphetamine, Scất giữ với mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện bắt giữ tại tầng 3 nhà 24A ngõ 55 Chính Kinh, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội.Tổng khối lượng ma túy S bán cho các con nghiện là 5,664 gam ma túy Methamphetamine.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hành vi của bị cáo Trần Xuân S đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 251- Bộ luật hình sự; hành vi của các bị cáo Nguyễn Danh H, Nguyễn Văn H, và Đỗ Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự của nước CHXHCNVN.

Ma túy là chất gây nghiện, có hại cho sức khỏe con người, ma túy còn là hiểm họa xã hội, bởi từ ma túy có thể dẫn đễn rất nhiều loại tội phạm khác. Chính vì lẽ đó mà nhà nước ta luôn tuyên truyền, vận động tất cả các thành viên trong xã hội hiểu biết về tác hại của ma túy và từ đó để đấu tranh, bài trừ và tránh xa ma túy. Cũng chính vì lẽ đó mà nhà nước đã ban hành những quy chế hết sức nghiêm ngặt để quản lý chặt chẽ các chất ma túy, đồng thời pháp luật quy định những chế tài hết sức nghiêm khắc đối với những hành vi liên quan đến chất ma túy.

Các bị cáo là người đã T thành, có đầy đủ khả năng nhận thức, biết được tác hại nguy hiểm của ma túy nhưng vẫn lao vào con đường phạm tội, thể hiện các bị cáo coi thường pháp luật. Bị cáo Trần Xuân Sđã bán ma túy cho các bị cáo H, H, và Trưỏng với tổng khối lượng là 0.896 gam Methamphetamine, ngoài ra còn tàng trữ trong người 4,768 gam Methamphetamine, với mục đích bán để kiếm lời, nên Sphải chịu tình tiết tăng nặng định khung, quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251- Bộ luật hình sự; các bị cáo Nguyễn Danh H, Nguyễn Văn H, và Đỗ Văn T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân. Tuy nhiên lượng ma túy thu giữ của bị cáo H nhiều hơn bị cáo H và Trường, nên bị cáo H phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H và bị cáo Trường.

Từ những phân tích trên, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo. Cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục răn đe các bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án tiền sự; gia đình bị cáo Scông với cách mạng, bản thân bị cáo ốm đau, bệnh tật (lao khớp háng), hiên đang nuôi hai con nhỏ, từ đó xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với người bán ma túycho Trần Xuân Sáng, do Skhai không biết rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ, nên không xét.

Đối với Bạch Đăng C, quá trình điều tra xác định ngày 20/10/2020 chỉ đến nhà Sđể chơi và sử dụng ma túy, không giúp Smua bán trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan Công an ra quyết định xử phạt hành chính C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP là thỏa đáng nên không xét.

Đối với anh Phạm Quyền Linh, về ý thức chủ quan, khi cho Nguyễn Văn H mượn điện thoại di động, anh Linh không biết H sử dụng để liên lạc mua ma túy; Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ, nên không xét.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệuHonda Wave màu đen, BKS: 18F1-394.48, SK: RLHJA3919LY167302; SM: JA39E-1505157 (thu giữ của Đỗ Văn T), qua điều tra xác định đăng ký xe mang tên anh Nguyễn Văn H (bạn của T), xe máy không nằm trong dữ liệu xe tang vật. Anh H không biết T sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe máy trên cho anh Hoàng là có căn cứ nên không xét.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệuAttila, màu vàng, BKS 30K6-6964, SM: VMVTBA-D019323, SK: 019323 thu giữ của Nguyễn Văn H, qua điều tra xác định đăng ký xe mang tên chị Trần Thị Hường (em vợ của Nguyễn Văn H), xe máy không nằm trong dữ liệu xe tang vật. Chị H không biết H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều đã trả chiếc xe máy trên cho chị Hlà có căn cứ, nên không xét.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận Thanh Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân truy tố bị cáo Trần Xuân S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, i khoản 2 Điều 251- Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Nguyễn Danh H, Nguyễn Văn H, và Đỗ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249- Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.

* Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

* Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 5,664 gam ma túy Methamphetamine.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, có ốp lưng màu đen, số IMEI: 355325080965728, bên trong lắp sim số 0357.451.124thu giữ của Đỗ Văn T. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S7, màu đồng, IMEI 1: 357224074315859, IMEI 2: 357225074315856, lắp sim số 0983118799 thu giữ của Nguyễn Văn H. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A9 màu xanh, IMEI 1: 355085101027706; IMEI 2: 355086101027704 và số tiền 600.000 đồng thu giữ của Nguyễn Danh H, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo, sau khi đã đối trừ khoản phải thi hành án.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, IMEI 1: 864267044152833; IMEI 2: 864267044152825 thu giữ của Sáng. Xét thấy Sđã sử dụng làm phương tiện liên lạc vào mục đích phạm tội, nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền 3.700.000 đồng, thu giữ của Sáng, trong đó có 800.000 đồng là tiền Sthu được từ việc bán ma túy cho T, H, H ngày 20/10/2020, đây là tiền thu lợi bất chính nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Số tiền 2.900.000 đồng, còn lại xét thấy không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo Sáng, sau khi đã đối trừ khoản phải thi hành án.

Đối với 01 cân điện tử màu đen; 01 coóng thủy tinh;01 túi nilon kích thước 5x7cm, bên trong chứa 5 túi nilon kích thước 1,5x2,5cm; 01 ví vải màu trắng có liên quan đến hành vi phạm tội của Sáng, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

* Về án phí, và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; các bị cáo Nguyễn Danh H, Nguyễn Văn H, Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: - Điểm b, i khoản 2 Điều 251 (đối với bị cáo Sáng); điểm c khoản 1 Điều 249 (đối với bị cáo H, bị cáo H, và bị cáo T); Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 - Bộ luật hình sự.

- Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều106- Bộ luật tố tụng hình sự.

- Áp dụng Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

2.1.Xử phạt:Trần Xuân S 07 (bảy) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 20/10/2020.

2.2. Xử phạt: Nguyễn Danh H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 20/10/2020.

2.3. Xử phạt: Nguyễn Văn H 01 (một) năm 01 (một) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 20/10/2020.

2.4. Xử phạt: Đỗ Văn T 01 (một) năm 01 (một) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 20/10/2020.

Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

3. Xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì dán kín niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Danh Hbên trong có 0,425 gam Methamphetamine (đã lấy mẫu giám định 0,055 gam); 01 phong bì niêm phong, dán kín ký hiệu M1+M2 bên ngoài có chữ ký của Trần Xuân Sáng, bên trong có 4,768gam Methamphetamine (đã lấy mẫu giám định 0,226 gam); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong bên ngoài có chữ ký của Đỗ Văn T, bên trong có 0,201 gam Methamphetamine (đã lấy mẫu giám định 0,040 gam); 01 (một) phong bì dán kín niêm phong bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Văn H bên trong có 0,270 gam Methamphetamine (đã lấy mẫu giám định 0,080 gam); 01 cân điện tử màu đen; 01 coóng thủy tinh;01 túi nilon kích thước 5x7cm, bên trong chứa 5 túi nilon kích thước 1,5x2,5cm; 01 ví vải màu trắng.

3.2.Sung ngân sách nhà nước:

+ Số tiền 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng) (được trừ vào số tiền 3.700.000 đồng thu giữ của Trần Xuân Sáng);

+01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S7, màu đồng, IMEI 1: 357224074315859, IMEI 2: 357225074315856, lắp sim số 0983118799;

+01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh, IMEI 1: 864267044152833; IMEI 2: 864267044152825;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu đen, có ốp lưng màu đen, số IMEI: 355325080965728, bên trong lắp sim số 0357451124.

3.3. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Danh H 01điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A9 màu xanh, IMEI 1: 355085101027706; IMEI 2: 355086101027704.

Các tang vật trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/3/2021 giữa Công an quận Thanh Xuân và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân).

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Danh H số tiền 600.000 đồng(Sáu trăm nghìn đồng) sau khi đã đối trừ khoản phải thi hành án;

+ Trả lại cho bị cáo Trần Xuân S số tiền 2.900.000 đồng (trong số tiến 3.700.000 đồng đã trừ 800.000 đồng tịch thu sung ngân sách) sau khi đã đối trừ khoản phải thi hành án. (Số tiền trên đang lưu giữ theo ủy nhiệm chi ngày 02/3/2021 của Công an quận Thanh Xuân cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Xuân theo tài khoản số 3949.0.1049183 tại Kho bạc Nhà nước Thanh Xuân).

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. /.

Cỡ chữ