vanban.org

Bản án 53/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 23/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lừ Văn T, Lừ Văn L, Lừ Văn M, Lừ Văn C, Lừ Văn L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Lừ Văn T 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02/3/2021. Lừ Văn L 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02/3/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừ Văn Thủy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lừ Văn T, Lừ Văn L, Lừ Văn M, Lừ Văn C, Lừ Văn L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2021/HS-ST
Ngày 23-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ứng Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Cường

2. Bà Lò Thị Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương, Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2021/QĐXXST-HS, ngày 09/7/2021 đối với các bị cáo:

1. Lừ Văn T, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Bản N, xã V, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lừ Văn M , con bà Hoàng Thị H; bị cáo có vợ và 01 con. Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2021 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

2. Lừ Văn L, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Bản N, xã V, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lừ Văn H , con bà Hoàng Thị X; bị cáo có vợ và 01 con.

Tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự. Ngày 19/02/2019 bị Công an huyện Yên Châu xử pha ̣t vi pha ̣m hành chinh về hành vi gây tổn ha ̣i sứ c khỏe ngườ i khác

́

bằng hinh thứ c pha ̣t tiền 750.000 đồng, chưa chấp hành. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm

̀ giam từ ngày 02/3/2021 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

3. Lừ Văn M, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Bản N, xã V, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lừ Văn A (đã chết) con bà Lò Thị Y; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2021 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

4. Lừ Văn C, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Bản N, xã V, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lừ Văn S con bà Hoàng Thị H; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2021 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

5. Lừ Văn L, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Bản N, xã V, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lừ Văn T con bà Hoàng Thị X; bị cáo có vợ và 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/3/2021 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

1. Anh Vi Thanh T

̀

Nơi cư trú: Bản N, xã V, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, có mặt

2. Chị Lò Thị Đ

Nơi cư trú: Bản N, xã V, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 00 phút ngày 02/3/2021 tại bản Tà Làng Thấp , Tú Nang, Yên Châu, Sơn La tổ công tác Công an huyê ̣n Yên Châu và Công an xa Tũ ́ Nang phát hiê ̣n và bắt quả tang 04 đối tượng: Lừ Văn L , Lừ Văn T , Lừ Văn C , Lừ Văn M cùng trú tại: bản Na, xã V, huyê ̣n Yên Châu , tỉnh Sơn La có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ; 01 đối tượng bỏ trốn. Vâ ̣t chứ ng thu giữ gồm : 05 viên nén màu hồng trong đó có 4 viên đồng da ̣ng hinh tru ̣ trò n và 01 viên không rõ hin h dạng

̀

̀ được gói trong mảnh giấy màu trắng do Lừ Văn C lấy trên mă ̣t đất ca ̣nh chỗ C ngồi giao nô ̣p; 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u OPPO A 35, vỏ màu đỏ , máy đã qua sử dụng thu giữ của Lừ Văn L ; 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣ u OPPO F 11, vỏ màũ xanh đen, máy đã qua sử dụng thu giữ của Lừ Văn M ; 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhañ hiê ̣u Vivo, vỏ màu nâu đen , máy đã qua sử dụng thu giữ của Lừ Văn C ; 01 điê ̣n thoại di động nhãn hiệu Titel , vỏ màu đỏ đen , máy đa qua sữ

̉ d ụng thu giữ của Lừ Văn T; 01 xe máy hiê ̣u LANDA , loại dream, màu nâu, BKS: 29Z8 – 4529, xe đa ̃ qua sử du ̣ng ; 01 xe máy nhan hiê ̣̃

u YAMAHA , loại sirius , màu trắng đen , BKS: 26B2 – 143.90, số khung: Y088846, số máy: 6E133587; 01 chai nhựa màu trắng , không có nắp , dài khoảng 22cm, đườ ng kinh đáy chai 5cm, miê ̣ng chai 2,5cm,

́

phần thân chai nhựa được đu ̣c mô ̣t lỗ gắn mô ̣t ống nhựa màu vàng dài khoảng 13cm, đầu ống bên ng oài chai có dấu vết đen nâu ; 01 bâ ̣t lửa ga hiệu H – VIET, màu hồng đen, dài khoảng 7,5cm, đa qua sữ

̉ du ̣ng thu giữ của Lừ Văn T . Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và dẫn giải Lừ Văn L, Lừ Văn T, Lừ Văn C, Lừ Văn M về công an huyện Yên Châu để giải quyết theo quy định

Ngày 03 tháng 3 năm 2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La phối hợp với Phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng vật chứng thu giữ và trích rút mẫu để giám định:

Kết quả cân tách bì toàn bộ 4 viên nén đồng da ̣ng hinh tru ̣ tròn màu hồng và

̀ 01 viên nén không rõ hinh da ̣ng màu h ồng có khối lượng 0,54 gam. Trích 01 viên

̀ nén không rõ hình dạng màu hồng có khối lượng 0,1 gam ký hiê ̣u K 1 gử i mẫu giám định; trích 02 viên nén hinh tru ̣ tròn màu hồng có khối lượng 0,20 gam ký

̀ hiê ̣u K2 gử i giám đi ̣nh; còn lại 02 viên nén hinh tru ̣ tròn màu hồng có khối lượng

̀

0,24 gam cho vào 01 túi nilon ký hiệu K3 nhâ ̣p kho vâ ̣t chứ ng.

Tại kết luận giám định số: 534/KLMT ngày 04 tháng 3 năm 2021 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Các mẫu gửi giám định ký hiệu K1, K2 là ma túy , loại Methamphetamine, tổng khối lượng mẫu gử i giám đi ̣nh là 0,30 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,54 gam, loại Methamphetamine”.

Đối với đối tượng chạy thoát 02/3/2021 qua lời khai của những đối tượng bị bắt xác định là Lừ Văn L , sinh năm 1992; trú tại bản N, xã V, huyện Yên Châu , tỉnh Sơn La. Sau khi chạy thoát L đã trốn xuống huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh làm thuê. Ngày 10/3/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyê ̣n Yên Châu ra Quyết đi ̣nh truy nã đối với Lừ Văn L, được sự vâ ̣n đô ̣ng của gia đinh, chính quyền địa phương. Đến

̀ 16 giờ ngày 10/3/2021 L đến Cơ quan CSĐT Công an huyê ̣n Yên Châu đầu thú và khai nhâ ̣n hành vi góp tiền cùng Lừ Văn L , Lừ Văn T, Lừ Văn M, Lừ Văn C mua trái phép 0,54 gam Methamphetamine mu ̣c đich cùng nhau sử du ̣ng.

́

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lừ Văn L, Lừ Văn T, Lừ Văn C, Lừ Văn M, Lừ Văn L khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 02/3/2021, Lừ Văn L, Lừ Văn T, Lừ Văn M, Lừ Văn C, Lừ Văn L ăn cơm, uống rượu ta ̣i khu ruô ̣ng của gia đinh Lừ Văn M ở bản N, xã V,

̀ huyê ̣n Yên Châu, tỉnh Sơn La. Sau khi ăn xong T nói vớ i L , M, C, L “rượu say thế này anh em có ai muốn chơi ngựa không (ý là mua ma túy về sử dụng). T nói thêm, ở dưới rừng ma bản Tà Làng Thấp , xã Tú Nang có người bán ma túy , nếu mua thi

̀ góp tiền mỗi ngườ i 100.000 đồng; L, M, C, L đồng ý . Sau đó L, M, C, L, T đi về nhà tắm, thay quần áo và he ̣n n hau ở cổng chào của bản N , xã V. Khoảng 13 giờ cùng ngày, T điều khiển xe máy BKS: 26B2 – 143.90 của gia đình chở L, C đi theo quốc lô ̣ 6A đến xa Tũ ́ Nang . L điều khiển xe máy BKS : 29Z8 – 4529 (xe L mượn của Vì Thanh T; trú cùng bản) chở M đi sau xe của T . Trên đườ ng đi M nói vớ i L là không có tiền Lnói có 200.000đ cho M vay, khi nào có thi trả.

̀

Thủy điều khiển xe máy đi đến quán nước bên tay phải hướng Sơn La – Hà Nô ̣i thuô ̣c đi ̣a phâ ̣n bản Cốc Lắc, xã Tú Nang, huyê ̣n Yên Châu thi dừ ng la ̣i để đợi

̀ L và M. Tại đây C đưa cho T 70.000 đồng gồm 01 tờ mê ̣nh giá 50.000 đồng và 01 tờ mê ̣nh giá 20.000 đồng và nói chi cỏ ́ bảy mươi nghin , thấy vâ ̣y L đưa cho T

̀ 130.000 đồng gồm 01 tờ mê ̣nh giá 100.000 đồng, 01 tờ mê ̣nh giá 20.000 đồng, 01 tờ mê ̣nh giá 10.000 đồng và nói bù cho C 30.000 đồng, T bỏ ra 100.000 đồng gồm 2 tờ mê ̣nh giá 50.000 đồng. Tổng số tiền T cầm để mua ma túy là 300.000 đồng. Cùng lúc đó thì xe của L và M đi đến , T đưa cho M số tiền 300.000đ và nói tiền của T, C, L. Cùng lúc đó L cũng lấy ra 200.000đ gồm 02 tờ 100.000 đồng đưa cho M và nói tiền của M và L góp để mua ma túy . M cầm tiền và cất vào túi quần sau bên phải đang mă ̣c. L và T tiếp tu ̣c điều khiển xe máy chở M , C, L đi xuống xa Tũ ́ Nang. Khi đi qua nga ba Tã

̀ Làng , xã Tú Nang, T điều khiển xe máy re vã ̀o đườ ng bê tông bên trái đến khu rừ ng ma thuô ̣c bản Tà Làng Thấp, xã Tú Nang, huyê ̣n Yên Châu, cách đường quốc lộ 6A khoảng 100m thi dừ ng la ̣i. M đưa 500.000 đồng cho

̀

L đi mua ma túy , trướ c khi đi T nói vớ i L cứ đi vào bên trong gă ̣p ai thi hỏi có

̀ ngựa bán không nếu ho ̣ bảo có thi đưa tiền cho ho ̣ . T, C, M, L đứ ng đợi ngoài

̀ đườ ng. L cầm tiền đi bô ̣ vào khu rừ ng ma thuô ̣c bản Tà Làng Thấp cách đườ ng bê tông khoảng 80m thi gă ̣p 01 ngườ i phu ̣ nữ khoảng 40 tuổi không biết tên , đi ̣a chi

̀

̉ đang đứ ng ở ven đườ ng đi vào rừ ng ma . L hỏi có ngựa bán không , ngườ i phu ̣ nữ nói có, L đưa 500.000 đồng cho ngườ i phu ̣ nữ rồi đứ ng chờ , ngườ i phu ̣ nữ đi vào trong rừ ng ma sau đó quay la ̣i đưa cho L 01 gói giấy màu trắng bên trong có 5 viên Methamphetamine. Sau khi mua được ma túy L quay về còn ngườ i phu ̣ nữ đi hướ ng nào thi L không để ý.

̀

Trong lúc đợi L đi mua ma túy, T nhă ̣t ở khe đá 01 chai nhựa có cắm sẵn ống nhựa màu vàng trên thân chai, 01 mảnh giấy bạc màu trắng. T đưa cho C chai nhựa để C rửa và thay nước ở trong chai mục đích dùng để sử dụng ma túy.

Khoảng 10 phút sau L quay lại chỗ T, C, M, L đang đợi, L đưa ra 01 gói giấy màu trắng bên trong có 5 viên methamphetamine. L, C, M, L, T ngồi thành vòng tròn. L lấy 01 viên Methamphetamine để lên trên mảnh giấy ba ̣c rồi dùng chai nướ c có gắn sẵn ống hút , 01 bâ ̣t lử a ga T mang từ nhà để sử du ̣ng ma túy. L là ngườ i sử du ̣ng đầu tiên , sau đó lần lượt đến C , M, L, đến lượt T sử dụng T đã bẻ viên hồng phiến đang sử du ̣ng ra 1 ít để trên giấy bạc đốt hút, phần hồng phiến còn lại T gói vào gói giấy chứa 4 viên hồng phiế n đang để dướ i đất . Khi T đang sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Châu phối hợp Công an xã Tú Nang phát hiê ̣n , bắt quả tang , lợi du ̣ng đi ̣a hinh Lừ Văn L bỏ cha ̣y vào rừ ng , tổ

̀

công tác đa tỗ ̉ chứ c truy đuổi như ng không bắt được . Nhâ ̣n thứ c được hành vi phạm tội Lừ Văn C lấy gói giấy màu trắng bên trong có chứa

5 viên Methamphetamine (04 viên nén hinh tru ̣ tròn màu hồng; 01 viên nén không rõ hinh

̀

̀ dạng màu hồng) để trên mặt đất gần ch ỗ C đang ngồi giao nộp cho tổ công tác . Tổ công tác Công an huyện Yên Châu phối hợp với Công an xã Tú Nang, huyện Yên Châu đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu ở trên.

Cáo trạng số 30/CT – VKSYC, ngày 11 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La để xét xử các bị cáo Lừ Văn T , Lừ Văn L, Lừ Văn C , Lừ Văn M, Lừ Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lừ Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lừ Văn L từ 18 tháng đến 24 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lừ Văn M từ 18 tháng đến 24 tháng tù. áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lừ Văn C từ 16 tháng đến 22 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lừ Văn L từ 16 tháng đến 22 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, về án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tich thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi: Vật chứng vụ Lừ Văn C cùng đồng bo ̣n có hành vi

tàng trữ trái phé p chất ma túy xảy ra ngày 02/3/2021 bên trong gồm 01 phong bi niêm phong vâ ̣t chứ ng ban đầu , 01 mảnh

̀

giấy màu trắng , 0,24 gam Methamphetamine; 01 chai nhựa màu trắng , không có nắp, dài khoảng 22cm, đườ ng kinh đáy chai 5cm, miê ̣ng chai 2,5cm, phần thân

́ chai nhựa được đu ̣c mô ̣t lỗ gắn mô ̣t ống nhựa màu vàng dài khoảng 13cm, đầu ống bên ngoài chai có dấu vết đen nâu; 01 bâ ̣t lử a ga hiê ̣u H – VIET, màu hồng đen, dài khoảng 7,5cm, đa qua sữ

̉ du ̣ng.

Trả lại cho bị cáo Lừ Văn L 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u OPPO A 35, vỏ màu đỏ, máy đã qua sử dụng , trả lại cho bị cáo Lừ Văn M 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhãn hiệu OPPO F11, vỏ màu xanh đen, máy đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Lừ Văn C 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Vivo, vỏ màu nâu đen, máy đã qua sử du ̣ng; trả lại cho bị cáo Lừ Văn T 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Titel , vỏ màu đỏ đen, máy đã qua sử dụng.

Trả lại cho anh Vì Thanh T 01 xe máy hiê ̣u LANDA , loại dream, màu nâu, BKS: 29Z8 – 4529, xe đa qua sữ

̉ du ̣ng.

Trả lại cho chị Lò Thị Đ 01 xe máy nhan hiê ̣̃

u YAMAHA , loại sirius, màu trắng đen, BKS: 26B2 – 143.90, số khung: Y088846, số máy: 6E133587, xe đa quã sử du ̣ng.

Các bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhất trí với quan điểm trả lại tài sản cho mình và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường trách nhiệm dân sự.

Các bị cáo T, L, M, C, L nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với cộng đồng trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Lừ Văn T, Lừ Văn L, Lừ Văn C, Lừ Văn M, Lừ Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo đã trực tiếp cùng nhau góp tiền mua và tàng trữ 0,54 gam loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Khi thực hiện hành vi phạp tội các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã trên 18 tuổi có hiểu biết pháp luật. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong vụ án này tổng khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,54 gam; ngoài mục đích sử dụng ra các bị cáo không còn mục đích nào khác. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, số lượng các bị cáo tham gia trong vụ án nhiều gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi các bị cáo cư trú cũng như trên địa bàn địa phương khác. Số lượng ma túy các bị cáo tàng trữ tuy không lớn, nhưng nếu không được ngăn chặn kịp thời chất độc hại này sẽ được đưa vào cơ thể con người làm suy thoái giống loài, nếu để lây lan, trôi nổi trong xã hội làm cho tệ nạn ma túy tại địa phương ngày càng phức tạp. Do đó các bị cáo cần phải bị trừng trị thích đáng nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đối với các bị cáo Lừ Văn T, Lừ Văn L, Lừ Văn M, Lừ Văn C có ông, bà là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân, huy chương kháng chiến do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đối với bị cáo Lừ Văn L sau khi hành vi vi phạm của bị cáo bị cơ quan công an phát hiện đã bở chốn khỏi địa phương, tuy nhiên sau khi có lệnh truy nã được sự vận động của gia đình và chính quyền địa phương bị cáo Long đã ra đầu thú tại cơ quan công an. Do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất đồng phạm trong vụ án thấy rằng trong vụ án này các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc thống nhất, phân công vai trò từ trước. Sau khi cả nhóm uống rượu say do có nhu cầu sử dụng ma túy mới nảy sinh ý định cùng nhau góp tiền đi tìm mua ma túy cùng nhau sử dụng.

Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án thấy rằng: Bị cáo Lừ Văn T là người khởi sướng, rủ rê các bị cáo L, M, C, L cùng nhau góp tiền đi tìm mua ma túy cùng nhau sử dụng và là người chỉ điểm cho bị cáo L đến nơi có người bán ma túy để mua và góp 100.000đ để mua ma túy. Do đó bị cáo T phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo khác. Đối với bị cáo Lừ Văn L là người trực tiếp nhận tiền từ M đi tìm mua ma túy và góp 200.000đ trong đó 100.000đ là phần của L còn 100.000đ L cho M vay, do đó bị cáo L có vai trò thứ hai trong vụ án. Đối với các bị cáo M, C, L sau khi nghe bị cáo T khởi sướng rủ rê góp tiền đi tìm mua ma túy cùng nhau sử dụng đã đồng tình và có cùng nhau góp tiền để mua ma túy (L góp 130.000đ bù cho C 30.000đ, C góp 70.000đ, M góp 100.000đ vay của L). Do đó các bị cáo M, C, L có vai trò đồng phạm tích cực và phải chịu hình phạt tương xứng.

Xét về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo T, C, M, L là người có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Tuy nhiên theo báo cáo của chính quyền địa phương các bị cáo thuộc diện đối tượng quản lý của công an xã V, thường xuyên gặp gỡ các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn giáp danh, có thái độ chấp hành nội quy, quy định tại địa phương không tốt gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Đối với bị cáo L không có tiền án, có 01 tiền sự: Ngày 19/02/ 2019 bị Công an huyện Yên Châu xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây tổn ha ̣i sứ c khỏe ngườ i khác bằng hinh thứ c pha ̣t tiền 750.000 đồng, chưa chấp

̀

hành, theo báo cáo của chính quyền địa phương bị cáo thuộc diện đối tượng quản lý của công an xã V, thường xuyên gặp gỡ các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn giáp danh, có thái độ chấp hành nội quy, quy định tại địa phương không tốt gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó để trừng trị đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, cũng như công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đối với người đã trực tiếp bán ma túy cho bị cáo L, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi mua bán đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị xử lý hình sự, nhưng quá trình điều tra không xác định được đối tượng nên không có căn cứ để xử lý ở vụ án này, đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý ở vụ án khác.

Vật chứng thu giữ của vụ án: Vật chứng còn lại 0,24gam Methamphetamine, 01 phong bi niêm phong vâ ̣t chứ ng ban đầu, 01 mảnh giấy màu

̀ trắng, 01 chai nhựa màu trắng , 01 ống nhự a màu vàng ; 01 bâ ̣t lử a ga hiê ̣u H – VIET, màu hồng đen đa qua sữ

̉ du ̣ng là vật nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 04 điện thoại di động đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp của các bị cáo, các bị cáo không sử dụng chiếc điện thoại này vào việc phạm tội, do đó cần trả lại chiếc điện thoại nói trên cho các bị cáo.

Đối với 01 xe máy nhan hi ệu Ỹ

AMAHA, loại sirius, màu trắng đen , BKS: 26B2 – 143.90, số khung: Y088846, số máy : 6E133587 xe đa qua sữ

̉ du ̣ng quá trình điều tra xác minh và tại phiên tòa ngày hôm nay xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Lò Thì Đ (vợ bị cáo T). Việc bị cáo T sử dụng chiếc xe nói trên để thực hiện hành vi phạm tội chị Đ không biết, không liên quan. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay chị Đ yêu cầu được trả lại chiếc xe máy nói trên để làm phương tiện đi lại. Do đó, cần trả lại chiếc xe máy nói trên cho chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 xe máy hiê ̣u LANDA , loại dream, màu nâu, BKS: 29Z8 – 4529, xe đa qua sữ

̉ du ̣ng , quá trình điều tra xác minh và tại phiên tòa ngày hôm nay xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Vì Thanh T, ngày 01/3/2021 L có đến mượn xe của anh T nói là để đi làm nương. Việc bị cáo L sử dụng chiếc xe nói trên để thực hiện hành vi phạm tội anh T không biết, không liên quan. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay anh T yêu cầu được trả lại chiếc xe máy nói trên để làm phương tiện đi lại. Do đó, cần trả lại chiếc xe máy nói trên cho chủ sở hữu hợp pháp.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy lẽ ra ngoài hình phạt tù, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; nhưng xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, tài sản không có gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

1. Tuyên bố các bị cáo Lừ Văn T, Lừ Văn L, Lừ Văn M, Lừ Văn C, Lừ Văn L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt các bị cáo.

- Lừ Văn T 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02/3/2021.

- Lừ Văn L 22 (Hai mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02/3/2021.

- Lừ Văn M 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02/3/2021.

- Lừ Văn L 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 10/3/2021.

- Lừ Văn C 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 02/3/2021.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì giấy niêm phong mặt trước ghi: Vật chứng vụ Lừ Văn Cường cùng đồng bọn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bên trong gồm có bên trong gồm: 0,24 gam Methamphetamine; 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 chai nhựa màu trắng, không có nắp, dài khoảng 22cm, đườ ng kinh đáy chai 5cm, miê ̣ng chai 2,5cm, phần thân

́

chai nhựa được đu ̣c mô ̣t lỗ gắn mô ̣t ống nhựa màu vàng dài khoảng 13cm, đầu ống bên ngoài chai có dấu vết đen nâu; 01 bâ ̣t lử a ga hiê ̣u H – VIET, màu hồng đen, dài khoảng 7,5cm, đa qua sữ

̉ du ̣ng.

- Trả lại cho bị cáo Lừ Văn L 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u OPPO A 35, vỏ màu đỏ, máy đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Lừ Văn M 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhãn hiệu OPPO F11, vỏ màu xanh đen, máy đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Lừ Văn C 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Vivo, vỏ màu nâu đen, máy đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Lừ Văn T 01 điê ̣n thoa ̣i di đô ̣ng nhan hiê ̣̃

u Titel , vỏ màu đỏ đen, số IMEI1 354942077826548, số IMEI2 354942077826555 máy đã qua sử dụng.

- Trả lại cho anh Vì Thanh T 01 xe máy hiê ̣u LANDA, loại dream, màu nâu, BKS: 29Z8 – 4529, xe đa qua sữ

̉ du ̣ng.

- Trả lại cho chị Lò Thị Đ 01 xe máy nhan hiê ̣̃

u YAMAHA , loại sirius, màu trắng đen, BKS: 26B2 – 143.90, số khung: Y088846, số máy: 6E133587, xe đa quã sử du ̣ng.

Các vật chứng nêu trên được mô tả theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 21/6/2021 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu và Công an huyện Yên Châu.

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016, buộc các bị cáo Lừ Văn T, Lừ Văn L, Lừ Văn C, Lừ Văn M, Lừ Văn L mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 23/7/2021.

Cỡ chữ