vanban.org

Bản án 53/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre Tuyên án 07/06/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bé H (tên gọi khác: Q), Trần Văn Ú, Trần Thành M phạm tội “Đánh bạc”.

1 Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo: Nguyễn Bé H (tên gọi khác: Q) 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Bé H cùng đồng bọn - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bé H (tên gọi khác: Q), Trần Văn Ú, Trần Thành M phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ LÁCH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 53/2021/HS-ST
Ngày: 07-6-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Trọn.

Bà Bùi Thị Thúy Bắc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến tre tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Bé H (tên gọi khác: Q), sinh năm 1983; nơi sinh: huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp C, xã P , huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N (Chết) và bà Phan Thị T (Chết); bị cáo có vợ là Lâm Thị Mỹ N, sinh năm 1983; có 01 người con sinh năm 2012; tiền án: Không có; tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 13/8/2018 bị Công an xã P xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt xong ngày 13/8/2018.

2. Trần Văn Ú, sinh năm 1970; nơi sinh: huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp P Đ, xã P, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (Chết) và bà Nguyễn Thị P (Chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị S, sinh năm 1968; có 02 người con sinh năm 1989 và 1999; tiền án: Không có; tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 10/9/2018 bị Công an xã P xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt xong ngày 10/9/2018.

3. Trần Thành M, sinh năm 1977; nơi sinh: tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp P Đ, xã P, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Á và bà Nguyễn Thị L; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T (đã ly hôn năm 2007); có 01 người con sinh năm 2001; tiền án: Không có; tiền sự: Có 01 tiền sự: Ngày 10/8/2018 bị Công an xã P xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt xong ngày 10/8/2018.

Các bị cáo đều tại ngoại. Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Phạm Phước L, sinh năm 1984; Có mặt

Nơi cư trú: ấp P Đ, xã P, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1979; Có mặt

Nơi cư trú: ấp P Đ, xã P, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Người làm chứng:

+ Ông Đống Minh P, sinh năm 1984; Có mặt

Nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

+ Ông Hà Thanh V, sinh năm 1976; Có mặt

Nơi cư trú: ấp P Đ, xã P, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 16/10/2018, tại quán nước của anh Hà Thanh V và chị Nguyễn Thị Ngọc C tại ấp P Đ, xã P, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre có: Trần Văn Ú, Trần Thành M, Nguyễn Bé H và Phạm Phước L đến uống nước. Một lúc sau, nghe có người kêu đem bộ bài tây loại 52 lá để đánh bài tiến lên chơi nên chị C đem bộ bài đặt trên bàn inox rồi quay ra sau làm việc. Lúc này Ú, H, M và L tổ chức đánh bài tiến lên không cùng màu lá bài mà đánh lộn xộn trên 01 cái bàn bằng xi măng phía trước quán, xung quanh có 03 băng ghế bằng xi măng và 01 ghế bằng nhựa, mỗi tụ bài mỗi ván được chia 13 lá bài, người nào đánh hết bài trước thì thắng. Người tới thứ nhất thắng được 20.000đ, tới thứ hai thắng được 10.000đ, tới thứ ba thua 10.000đ, tới cuối cùng thua 20.000đ. Ai tới thứ nhất được chia bài, không đặt tiền trước mỗi ván, không để tiền trên bàn nơi đánh bài trong lúc đánh mà để trong túi áo, ống quần, khi đánh xong từng ván bài, người tới cuối cùng lấy tiền chung cho người tới thứ nhất, người tới thứ ba lấy tiền chung cho người tới thứ hai. Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 16/10/2018, bị lực lượng Công an huyện Chợ Lách phối hợp cùng Công an xã P bắt quả tang. Khi lực lượng Công an đến, Ú, Hi, M ngồi tại nơi đánh bài, còn L cầm số tiền 120.000đ chạy ra phía sau quán nước. Sau đó, bị lực lượng Công an phát hiện và L đem 120.000đ giao nộp.

Quá trình điều tra, đã xác định:

Trần Văn Ú mang theo 5.200.000đ, sử dụng 200.000đ để đánh bạc, thắng được 120.000đ, tất cả giấu trong người, sau đó giao cho Cơ quan điều tra, còn số tiền 5.000.000đ Ú không sử dụng đánh bạc, đã giao trả cho Ú.

Trần Thành M mang theo 2.380.000đ, sử dụng 380.000đ để đánh bạc, thua hết 100.000đ, còn lại 2.280.000đ giấu trong người, sau đó giao cho Cơ quan điều tra, còn số tiền 2.000.000đ M không sử dụng đánh bạc, đã giao trả cho M.

Nguyễn Bé H mang theo 7.070.000đ, sử dụng 70.000đ để đánh bạc, thua hết 70.000đ, còn lại 7.000.000đ giấu trong người, H không sử dụng đánh bạc, sau đó giao cho Cơ quan điều tra, đã giao trả cho H.

Phạm Phước L mang theo 4.070.000đ, sử dụng 70.000đ để đánh bạc, thắng được 50.000đ, tất cả giấu trong người, sau đó giao cho Cơ quan điều tra, còn số tiền 4.000.000đ anh L không sử dụng đánh bạc, đã giao trả cho anh L.

Như vậy, số tiền Nguyễn Bé H, Trần Văn Ú và Trần Thành M sử dụng đánh bạc gồm: Tiền trong người của Ú là 320.000đ, tiền trong người của M là 280.000đ và tiền trong người của L là 120.000đ. Tổng cộng là 720.000đ.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 bộ bài tây loại 52 lá, đã qua sử dụng.

- Tạm giữ ngoài chiếu bạc, tại quán nước của Hà Thanh V:

+ 01 xe mô tô SKYDRIVE màu đỏ, nhãn hiệu: SUZUKI, biển kiểm soát 62Z6-xxxx, số khung: RLSCF4LC0A-0107948, số máy: F4D-2107947, đã qua sử dụng.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại FUTURE, màu xanh, biển kiểm soát 71B1-xxxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, đã qua sử dụng.

+ 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI loại VIVAR, màu xanh, biển kiểm soát 84F7-xxxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu vàng, đã qua sử dụng.

+ 01 xe đạp hiệu Martin số khung 0802211435, màu hồng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng.

+ Phạm Phước L giao nộp số tiền 4.120.000đ.

+ Nguyễn Bé H giao nộp số tiền 7.000.000đ

+ Trần Thành M giao nộp số tiền 2.280.000đ.

+ Trần Văn Ú giao nộp số tiền 5.320.000đ.

Quá trình điều tra, Nguyễn Bé H, Trần Văn Ú, Trần Thành M khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với những chứng cứ đã thu thập được.

Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 17 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách đã quyết định truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách để xét xử Nguyễn Bé H, Trần Văn Ú, Trần Thành M về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Bé H, Trần Văn Ú, Trần Thành M và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bé H, Trần Văn Ú, Trần Thành M phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Bé H từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Văn Ú từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Trần Thành M từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Lách đã:

- Trả cho Nguyễn Bé H 01 xe mô tô SKYDRIVE màu đỏ, nhãn hiệu: SUZUKI, biển kiểm soát 62Z6-xxxx, số khung: RLSCF4LC0A-0107948, số máy: F4D-2107947, đã qua sử dụng và số tiền 7.000.000 đồng.

- Trả cho Trần Thành M 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại FUTURE, màu xanh, biển kiểm soát 71B1-xxxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, đã qua sử dụng và số tiền 2.000.000 đồng.

- Trả cho Phạm Phước L 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI loại VIVAR, màu xanh, biển kiểm soát 84F7-xxxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu vàng, đã qua sử dụng và số tiền 4.000.000 đồng.

- Trả cho Trần Văn Ú 01 xe đạp hiệu Martin số khung 0802211435, màu hồng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng và số tiền 5.000.000 đồng

Đối với 01 bộ bài tây loại 52 lá, đã qua sử dụng là công cụ sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy;

Đối với số tiền 720.000 đồng là tiền dùng vào việc đánh bạc nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Lách, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Mặc dù, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, Kiểm sát viên trong quá trình truy tố; tuy nhiên xét thấy Cơ quan cảnh sát điều tra có Kết luận điều tra số 20 ngày 03/5/2019 và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách ngày 04/5/2019, đến ngày 19/11/2020 Viện kiểm sát mới ban hành Cáo trạng truy tố các bị cáo là vi phạm về thời hạn truy tố theo quy định tại Điều 240 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 12 giờ 20 phút ngày 16/10/2018 Nguyễn Bé H, Trần Văn Ú, Trần Thành M, Phạm Phước L có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài tiến lên thắng, thua bằng tiền. Tổng với số tiền mà Nguyễn Bé H, Trần Văn Ú, Trần Thành M, Phạm Phước L dùng để đánh bạc là 720.000 đồng. Trong đó số tiền bị cáo H đưa vào đánh bạc là 70.000đ, bị cáo Ú là 200.000 đồng, bị cáo M là 380.000 đồng. Mặc dù tổng số tiền các bị cáo và Phạm Phước L đưa vào đánh bạc chỉ có 720.000 đồng là dưới 5.000.000 đồng, nhưng xét về nhân thân các bị cáo đã có 01 tiền sự: Bị cáo H bị Công an xã P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 13/8/2018, với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, nộp phạt ngày 13/8/2018; bị cáo Ú bị Công an xã P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 10/9/2018 với số tiền 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 10/9/2018; bị cáo M bị Công an xã P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính vào ngày 10/8/2018, với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép, nộp phạt ngày 10/8/2018; đến ngày thực hiện hành vi đánh bạc trong vụ án này là chưa hết thời gian để được xem là xóa tiền sự nhưng các bị cáo lại tiếp tục vi phạm. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Bé H, Trần Văn Ú, Trần Thành M đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

Xét thấy, các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, biết hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ tư lợi bất chính nên các bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi các bị cáo phạm tội, có thể là mầm móng phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra.

Về vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn nên phải áp dụng theo chế định đồng phạm để xử lý. Xét thấy bị cáo Ú là người chủ động rủ các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc nên về vai trò, tính chất phạm tội của bị cáo Ú là cao hơn các bị cáo còn lại là phù hợp.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét:

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng;

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo H có con chưa thành niên là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo M có cha có thành tích xuất sắc trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng, có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội là không cần thiết mà chỉ cần giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ để các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy hành vi đánh bạc của các bị cáo là một trong những tệ nạn xã hội cần bài trừ nên phải có mức hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo để góp phần răn đe trong xã hội hiện nay.

Do bị cáo H đang nuôi con chưa thành niên nên HĐXX miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Còn bị cáo Ú, M nghề nghiệp không ổn định nên HĐXX miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Đối với hành vi đánh bạc của Phạm Phước L do số tiền dùng vào việc đánh bạc chưa đến 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) và qua tra cứu Phạm Phước L chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc nên Công an huyện Chợ Lách đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Nguyễn Thị Ngọc C có hành vi đưa bộ bài tây loại 52 lá để Ú, H, M, L đánh bài tiến lên nhưng không biết và cũng không đồng ý để họ đánh bài được thua bằng tiền nên không xem xét trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Lách đã trả lại cho: Bị cáo H 01 xe mô tô SKYDRIVE màu đỏ, nhãn hiệu: SUZUKI, biển kiểm soát 62Z6-xxxx, số khung: RLSCF4LC0A-0107948, số máy: F4D-2107947, đã qua sử dụng và số tiền 7.000.000 đồng; trả cho bị cáo M 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại FUTURE, màu xanh, biển kiểm soát 71B1-xxxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, đã qua sử dụng và số tiền 2.000.000 đồng; trả cho bị cáo Ú 01 xe đạp hiệu Martin số khung 0802211435, màu hồng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng và số tiền 5.000.000 đồng; trả cho Phạm Phước L 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI loại VIVAR, màu xanh, biển kiểm soát 84F7-xxxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu vàng, đã qua sử dụng và số tiền 4.000.000 đồng là phù hợp nên ghi nhận.

Đối với 01 bộ bài tây loại 52 lá, đã qua sử dụng là công cụ sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;

Đối với số tiền 720.000 đồng là tiền dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xử phạt các bị cáo hình phạt tiền là hình phạt chính là không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận.

Về án phí hình sự, các bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Bé H (tên gọi khác: Q), Trần Văn Ú, Trần Thành M phạm tội “Đánh bạc”.

1. 1 Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Bé H (tên gọi khác: Q) 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

1. 2 Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo: Trần Văn Ú 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.

1. 3 Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo: Trần Thành M 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã P, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre nhận được bản án và quyết định thi hành án.

Giao người bị kết án cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt chuyển đi nơi khác thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan thi hành án kèm theo hồ sơ của người bị kết án để làm thủ tục cần thiết giao cho cơ quan, tổ chức nơi người đó chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục, cải tạo.

Các bị cáo H, Ú, M được miễn khấu trừ thu nhập.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 3 Điều 35; khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự, xử phạt bổ sung các bị cáo:

Nguyễn Bé H số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

Trần Văn Ú số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

Trần Thành M số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Lách đã trả lại cho: Bị cáo H 01 xe mô tô SKYDRIVE màu đỏ, nhãn hiệu: SUZUKI, biển kiểm soát 62Z6-xxxx, số khung: RLSCF4LC0A-0107948, số máy: F4D-2107947, đã qua sử dụng và số tiền 7.000.000 đồng; trả cho bị cáo M 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại FUTURE, màu xanh, biển kiểm soát 71B1-xxxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, đã qua sử dụng và số tiền 2.000.000 đồng; trả cho bị cáo Ú 01 xe đạp hiệu Martin số khung 0802211435, màu hồng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, đã qua sử dụng và số tiền 5.000.000 đồng; trả cho Phạm Phước L 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI loại VIVAR, màu xanh, biển kiểm soát 84F7-xxxx, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu vàng, đã qua sử dụng và số tiền 4.000.000 đồng.

Tịch thu sung quỹ đối với số tiền 720.000đ (Bảy trăm hai mươi nghìn đồng).

Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây loại 52 lá, đã qua sử dụng là công cụ sử dụng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Lách)

4. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Bé H, Trần Văn Ú, Trần Thành M mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ