vanban.org

Bản án 53/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 29/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Trúc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Lê Thị Trúc T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/111/2020. * Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Trúc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2021/HS-ST
Ngày 29-9-2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phƣơng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Vẹn

Ông Nguyễn Quốc Thuần

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Thị Trúc T, sinh năm 2002 tại Đồng Nai;

Nơi cư trú: ấp Bình T, xã Thạnh Nh, huyện Gò Công T, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T sinh năm 1971 và con bà Nguyễn Thị Y; con 01 đứa sinh ngày 08/11/2019; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ ngày 18/11/2020, tạm giam ngày 21/11/2020 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Nguyễn Chí Th, sinh năm 1988; (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp Hòa L, xã Bình N, huyện Ch, tỉnh Tiền Giang.

2/ Bùi Thanh Đ, sinh năm 1999; (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp Bình T, xã Thạnh Nh, huyện Gò Công T, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/11/2020 tại nhà Nguyễn Chí Th thuộc ấp Hòa Lạc, xã Bình N lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy- Công an huyện Chợ Gạo kết hợp với Công an xã Bình N bắt quả tang Lê Thị Trúc T đang cất giấu trong túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người 02 bịch nylon màu trắng bên trong có chứa tinh thể trong suốt nghi là ma túy.

Bị cáo khai nhận: vào khoảng 10 giờ ngày 18/11/2020 Nguyễn Chí Th điện thoại cho bị cáo nhờ mua dùm 200.000 đồng ma túy để Th sử dụng, bị cáo đến gặp và mua của một người thanh niên tên Ng (không rõ họ tên thật và địa chỉ cụ thể) ngay cầu Thạnh Nh, huyện Gò Công T 200.000 đồng ma túy, tên Ng nói còn 02 bịch giá 300.000 đồng bị cáo đồng ý mua nhưng chưa đưa tiền. Khi mua được ma túy bị cáo không có điện cho Th biết là đã mua được ma túy và giá tiền bao nhiêu. Sau đó bị cáo điện thoại cho Bùi Thanh Đ chở đi đám giỗ. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày Đ chở T về nhà của Th có công việc, khi đến nhà chuẩn bị đưa ma túy cho Th thì bị bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 234/KLGĐ-PC09 ngày 20/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: các mẫu tinh thể trong suốt trong 02 (hai) gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong gói giấy màu trắng dạng bì thư được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Lê Thị Trúc T, Nguyễn Chí Th, Bùi Thanh Đ, Nguyễn Thị Phương Ng và Huỳnh Thanh T gửi giám định đều là ma túy, có tổng khối lượng 0,2044 gam, loại Methamphetamine.

Bản cáo trạng số 37/CT-VKSCG ngày 05/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố hành vi của bị cáo Lê Thị Trúc T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Trúc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Thị Trúc T từ 12 tháng tù – 18 tháng tù;

* Vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 234 niêm phong mẫu vật kèm theo kết luận giám định số 234/KLGĐ-PC09 ngày 20 tháng 11 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thanh Tr (Giám định viên), Nguyễn Quốc Phg (Trợ lý giám định) và chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thanh T (bên nhận).

+ Trả lại cho bị cáo: 01 (một) Điện thoại di động hiệu Nokia TA-1280, màu đen.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Trúc T đã khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có cơ sở xác định: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/11/2020 tại nhà Nguyễn Chí Th thuộc ấp Hòa L, xã Bình N lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy- Công an huyện Chợ Gạo kết hợp với Công an xã Bình N bắt quả tang Lê Thị Trúc T đang cất giấu trong túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người 02 bịch nylon màu trắng có tổng khối lượng 0,2044 gam, loại Methamphetamine.

Tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“ Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Như vậy hành vi của bị cáo như nhận định trên, đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, đây là một tệ nạn xã hội mà Nhà nước ta kiên quyết bài trừ và cũng là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm nghiêm trọng khác... Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nhưng chỉ vì để thỏa mãn cơn nghiện, nên bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm. Do đó cần có mức án thật nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo và nhằm mục đích cắt cơn nghiện ma túy cho bị cáo. Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt chưa tiền án, tiền sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình.

Lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về xử lý vật chứng, là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với đối tượng bán ma túy không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên không tiến hành xác minh làm rõ, khi nào làm việc được nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Chí Th và Bùi Thanh Đ chưa đủ cơ sở để xử lý hình sự với vai trò đồng phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo không khởi tố hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

+ Cần tịch thu tiêu hủy vật chứng sau không còn giá trị sử dụng: 01 (một) gói niêm phong số 234 ngày 20 tháng 11 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Nguyễn Thanh Tr, Trợ lý giám định Nguyễn Quốc Ph và bên nhận Nguyễn Thanh T. Kèm theo kết luận giám định số 234/KLGĐ – PC09 ngày 20 tháng 11 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang.

+ Trả lại cho bị cáo: 01 (một) Điện thoại di động hiệu Nokia TA-1280, màu đen.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Trúc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt:

Bị cáo Lê Thị Trúc T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/111/2020.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 234 ngày 20 tháng 11 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Nguyễn Thanh Tr, Trợ lý giám định Nguyễn Quốc Ph và bên nhận Nguyễn Thanh T. Kèm theo kết luận giám định số 234/KLGĐ – PC09 ngày 20 tháng 11 năm 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang.

+ Trả lại cho bị cáo: 01 (một) Điện thoại di động hiệu Nokia TA-1280, màu

đen (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2021)

+ Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

+ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ