- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh Bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 299 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2021/HS-ST Ngày: 29-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Công.
Ông Trịnh Văn Út.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Thu - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngoan - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2021/TLST - HS, ngày 09 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2021/QĐXXST – HS, ngày 14 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Huỳnh Văn N, sinh ngày 02/9/1989. Nơi cư trú: ấp 3, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nơi sinh: Tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 09/12. Họ và tên cha: Huỳnh Văn T, sinh năm: 1968 Họ và tên mẹ: Trần Thị P, sinh năm: 1965. Anh chị em ruột: có 01 người sinh năm 1987. Vợ: Phan Thị Hồng P, sinh năm 1991. Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền sự: 01. Vào ngày 05/01/2021 Huỳnh Văn N bị Công an xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc trái phép, đã nộp tiền phạt ngày 05/01/2021. Tiền án: 00. Bị cáo Huỳnh Văn N bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 08/8/2021 cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1983 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp 3, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
2/ Ông Hồ Hoàng P, sinh năm 1979 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp 3, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
3/ Ông Huỳnh Văn P, sinh năm 1995 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp 3, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
4/ Ông Hồ Tuấn L, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 6B43/8, ấp 6, xã Phạm Văn H, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.
Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa: Không có.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 17/6/2021, Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh nhận được tin báo của nhân dân tại vườn dừa của ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980 tọa lạc ấp 3, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh có nhiều đối tượng đang tụ tập đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc bầu cua được thua bằng tiền. Nhận được tin báo Công an huyện C kết hợp với Công an xã M tiến hành kiểm tra địa điểm trên phát hiện các đối tượng đang đánh bạc trái phép được thua bằng tiền gồm: Huỳnh Văn N, Nguyễn Thanh S, Hồ Hoàng P, Huỳnh Văn P, Hồ Tuấn L.
Tang vật thu giữ tại hiện trường gồm: 01 bộ dụng cụ bầu cua gồm 03 khối hình vuông bằng xốp, mỗi khối có 06 mặt là hình: bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 tờ giấy hình vuông có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 03 mảnh manh bao bằng nilong, số tiền là 100.000đồng và 01 túi bằng vải màu đỏ có dây rút. Kiểm tra trên người và xung quanh hiện trường quản lý số tài sản: số tiền là 1.450.000đồng, 04 (bốn) xe mô tô, 01 (một) điện thoại di dộng đã qua sử dụng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bị cáo Huỳnh Văn N và các đối tượng khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 17/6/2021 Nguyễn Thanh S gặp Hồ Tuấn L và hai thanh niên không rõ họ tên tại quán nước giải khát tọa lạc tại ấp 3, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tại đây Nguyễn Thanh S rủ Hồ Tuấn L và hai thanh niên không rõ họ tên chơi lắc bầu, cua, tôm, cá, gà, nai được thua bằng tiền thì L và hai thanh niên không rõ họ tên đồng ý chơi. Nguyễn Thanh S điều khiển xe mô tô đến chợ xã M mua bộ dụng cụ chơi bầu, cua, tôm, cá, gà, nai gồm 03 khối hình vuông, mỗi khối có 06 mặt in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai và 01 tờ giấy hình vuông có in hình tương ứng với khối hình vuông, nhưng S không có dụng cụ để lắc nên gọi điện thoại di động hỏi mượn thùng lắc và nắp đậy bằng kim loại của anh Phan Trung T, sinh năm 2002, nơi cư trú: ấp 3, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì được T đồng ý, nhưng lúc này T không có ở nhà nên anh T nói ông S đến nhà T lấy, sau đó ông S đến nhà anh T thì gặp cha của anh T và cha của anh T đã đưa cho ông S mượn thùng lắc và nắp đậy bằng kim loại. Khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi mua và mượn được bộ dụng cụ lắc bầu cua ông S quay lại quán nước dẫn ông Hồ Tuấn L cùng hai thanh niên đến vườn dừa của ông Nguyễn Văn Đ (phía sau cách nhà ông Đ khoảng 109m), S lấy 03 mảnh manh bao nilong trong chuồng bò của ông Nguyễn Văn Đ (chuồng nuôi bò được xây cất trên phần đất của ông Đ) lót ngồi trước cửa chuồng bò để chơi bầu, cua được thua bằng tiền, quy định mỗi ván người chơi đặt tiền từ 10.000đồng đến 100.000đồng thắng thua trực tiếp với người làm cái là ông Nguyễn Thanh S. Trong quá trình chơi thì có ông Hồ Hoàng P và ông Huỳnh Văn N, cùng cư trú ấp 3, xã M cùng tham gia chơi, đến khoảng 16 giờ 30 phút bị cáo Huỳnh Văn N tham gia chơi đánh bạc. Hình thức chơi như sau: Ông Nguyễn Thanh S là người làm cái tiến hành lắc 03 khối hình vuông được đặt bên trong thùng và nắp đậy bằng kim loại, Ông Hồ Hoàng P, bị cáo Huỳnh Văn N, ông Huỳnh Văn P, ông Hồ Tuấn L mỗi người một tụ bài, mỗi tụ đặt tiền trên tờ giấy có in các hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai theo ý của mình, sau đó người làm cái (S) mở thùng lắc đối chiếu với kết quả xác định thắng thua, nếu người chơi trúng một mặt thì thắng số tiền đúng với số tiền họ đặt, trúng hai mặt thì thắng số tiền gấp đôi, trúng ba mặt thì thắng số tiền gấp ba số tiền họ đặt. Các đối tượng chơi đánh bạc đến 17 giờ cùng ngày lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện lập biên bản thu giữ tang vật và mời các đối tượng về trụ sở làm việc.
Số tiền mà ông Hồ Tuấn L dùng vào việc đánh bạc là 110.000đồng, số tiền mà ông Hồ Hoàng P dùng vào việc đánh bạc là 100.000đồng, số tiền mà ông Nguyễn Thanh S dùng vào việc đánh bạc là 800.000đồng (đã thua hết 600.000đồng, còn 100.000đồng tại chiếu bạc và 100.000đồng thu giữ trên người S), số tiền mà Huỳnh Văn P dùng vào việc đánh bạc là 100.000đồng, Số tiền mà bị cáo Huỳnh Văn N dùng vào việc đánh bạc là 50.000đồng (đã thua hết).
Như vậy tổng số tiền mà bị cáo Huỳnh Văn N, ông Nguyễn Thanh S, ông Hồ Tuấn L, ông Huỳnh Văn P và ông Hồ Hoàng P dùng vào việc đánh bạc là 1.160.000đồng, chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm nhưng qua xác minh vào ngày 05/01/2021 bị cáo Huỳnh Văn N bị Công an xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14345/QĐXPVPHC với mức phạt tiền là 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc trái phép quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ - CP ngày 12/11/2013, đã chấp hành đóng phạt ngày 05/01/2021.
Đối với hành vi của ông Nguyễn Thanh S, ông Hồ Hoàng P, Huỳnh Văn P, ông Hồ Tuấn L không đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc nên ngày 25/8/2021 Công an huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Thanh S số tiền 1.500.000đồng và tịch thu số tiền là 100.000đồng, quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Hồ Tuấn L số tiền 1.500.000đồng và tịch thu số tiền là 50.000đồng, quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Huỳnh Văn P số tiền 1.500.000đồng, quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Hồ Hoàng P số tiền 1.500.000đồng và tịch thu số tiền là 70.000đồng.
Đối với anh Phan Trung T biết ông Nguyễn Thanh S mượn thùng lắc và nắp đậy để chơi lắc bầu cua thắng thua bằng tiền nhưng vẫn đồng ý cho ông Nguyễn Thanh S mượn, tuy nhiên anh T không thu lợi ích gì từ ông S, phía cơ quan điều tra đã lập biên bản giáo dục đối với anh T, đối với Đ không tham gia đánh bạc cũng như không thu lợi ích gì từ ông S và các đối tượng đánh bạc nên không có cơ sở xử lý. Đối với ông Đ không biết đối tượng tụ tập chơi đánh bạc tại vườn dừa của mình, không thu lợi ích từ các đối tượng nên không có cơ sở xử lý. Đối với hai thanh niên không rõ họ tên đã bỏ chạy khi lực lượng Công an đến kiểm tra, quá trình điều tra không có tài liệu để xác minh, do đó Cơ quan điều tra không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số: 60/CT-VKSCL, ngày 08 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh, truy tố bị cáo Huỳnh Văn N về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Văn N, hoàn toàn thống nhất với nội dung bản cáo trạng của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện C và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo.
Quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C: Sau khi phân tích các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Vị đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng về tội Đánh bạc. Vị đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên bố trả tự do cho bị cáo Huỳnh Văn N ngay tại phiên toà, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác. Ngoài ra, Vị còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Qua quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo Huỳnh Văn N xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt thấp cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của luật Tố tụng hình sự và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Đồng thời vị đại diện Viện kiểm sát và bị cáo Huỳnh Văn N yêu cầu tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, vì không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo và những đương sự trong vụ án vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có mặt tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1] Lời nhận tội của bị cáo Huỳnh Văn N tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra Công an huyện C thu thập có được.
Do vậy, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Văn N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp với qui định của pháp luật, không oan, không sai.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; Bởi vì, việc đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc trái pháp luật bị Nhà nước nghiêm cấm, được quy định trong Bộ luật hình sự. Bị cáo là người đã trưởng thành có đủ nhận thức những quy định của pháp luật, kiến thức xã hội, là người có sức khỏe để lao động, nhưng không lo chí thú làm ăn, chỉ vì muốn thu lợi bất chính, không cần bỏ ra công sức lao động vẫn có được lợi nhuận, vì thế luôn tìm mọi cách để che dấu hành vi phạm tội đối với các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương và các cơ quan thực thi pháp luật, nhằm thực hiện hành vi đánh bạc. Bản thân bị cáo đã có gia đình, con nhỏ đáng lý ra bị cáo phải biết chăm lo cuộc sống gia đình bằng sức lao động hợp pháp, là tấm gương tốt đối với gia đình và xã hội, mà đi ngược lại bị cáo có hành vi phạm tội.
Trước đây do bị cáo Huỳnh Văn N bị Công an xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14345/QĐXPVPHC với mức phạt tiền là 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc trái phép là đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Đáng lẻ ra bị cáo phải biết ăn năng hối cải để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, đàng này bị cáo lại tiếp tục vi phạm. Vì vậy lần vi phạm này của bị cáo Huỳnh Văn N đã vi phạm vào tội đánh bạc được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
[3]. Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra, bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội đánh bạc của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động sinh sống của nhân dân; thực tế, đánh bạc ăn thua bằng tiền là một tệ nạn xã hội, là nguyên nhân của sự đói nghèo, dẫn đến nhiều loại tội phạm khác bị pháp luật nghiêm cấm. Từ việc tham gia đánh bạc mà nhiều con bạc đã lâm vào cảnh nợ nần, kinh tế khó khăn, gia đình phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tan vỡ hạnh phúc gây ra sự đói nghèo, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
[4] Nhằm làm giảm bớt những tệ nạn xã hội, góp phần ổn định tình hình trật tự tại địa phương và đấu tranh ngăn ngừa tội phạm. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi của bị cáo và tính chất của vụ án. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Văn N, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra Huỳnh Văn N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có thân nhân gia đình có công với cách mạng; số tiền xát phạt ăn thua không lớn. Bị cáo có con còn nhỏ, là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình đơn chiếc. Đây là những căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Vì vậy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Do đó ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ theo quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với ông Nguyễn Thanh S, ông Hồ Hoàng P, ông Huỳnh Văn P và ông Hồ Tuấn L không đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc, đã bị cơ quan điều tra Công an huyện C đã xử phạt vi phạm hành chính. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh T và ông Đ không tham gia đánh bạc cũng như không thu lợi ích gì từ các đối tượng đánh bạc nên không có cơ sở xử lý. Đối với ông Đ không biết đối tượng tụ tập chơi đánh bạc tại vườn dừa của mình, không thu lợi ích từ các đối tượng nên không có cơ sở xử lý. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về vật chứng: Số tiền là 100.000đồng thu được tại chiếu bạc, là tiền các con bạc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
+ 01 bộ dụng cụ bầu cua gồm 03 khối hình vuông bằng xốp, mỗi khối có 06 mặt là hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 tờ giấy in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 03 mảnh manh bao bằng nilong và 01 túi vải màu đỏ có dây rút nghỉ nên tịch thu tiêu hủy.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ Điều 299, 327, 328, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N số tiền là 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng), nộp vào ngân sách Nhà Nước.
Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Huỳnh Văn N ngay tại phiên toà, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
2. Về vật chứng:
Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ bầu cua gồm 03 khối hình vuông bằng xốp, mỗi khối có 06 mặt là hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 01 tờ giấy in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 03 mảnh manh bao bằng nilong và 01 túi vải màu đỏ có dây rút.
- Số tiền 100.000đồng (Một trăm nghìn đồng) thu được tại chiếu bạc, là tiền các con bạc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
3. Về
ứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Buộc bị cáo Huỳnh Văn N nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày án sơ thẩm tuyên.
Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã nơi cư trú.
“ Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện, tỉnh; - CCTHADS huyện C; - Công an huyện C; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Liên |