vanban.org

Bản án 53/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 12/05/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T N. Giữ ngu ên bản án hình sự

sơ thẩm số 125/2020/HS-ST ngà 30 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân Tu ên bố bị cáo T N ph m tội “Vi ph m các qu định về sử d ng đất Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ N vi phạm các quy định về sử dụng đất đai - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 228 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T N. Giữ ngu ên bản án hình sự
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 228 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2021/HS-PT
Ngày 12-5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái

Các Thẩm phán:

Ông Đặng Văn Cường

Ông Lương Thanh Chín

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Mai là Thư ký Toà án của Tòa án nhân

dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà:

Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngà 12 tháng 5 năm 2021 t i tr s Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận

xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 42/2021/TLPT-

HS ngà 16 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo T N do có kháng cáo của bị cáo

đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 125/2020/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm 2020

của Tòa án nhân dân hu ện T.

- Bị cáo có kháng cáo:

Tạ N, sinh năm 1966 t i Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T,

tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân

tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông T M (đã chết) và bà

Nguyễn Thị H; có vợ là Võ Thị M và 06 người con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngà 29 tháng 7 năm 2019 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H ra

quyết định xử ph t vi ph m hành chính về hành vi chiếm đất số tiền 2.000.000

đồng; bị cáo hiện đang t i ngo i (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chủ tịch Ủ ban nhân dân xã H,

hu ện T tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung

v án được tóm tắt như sau:

Ngà 18 tháng 7 năm 2019 Tổ kiểm tra đất đai của Ủy ban nhân dân xã H

kiểm tra t i khu vực L phát hiện T N có hành vi tác động lên đất như: cà xới

đất trồng câ dừa chuối mãng cầu cam chanh đu đủ dưa lấ h t và dựng một

chòi t m. T i buổi kiểm tra T N đã chỉ ranh giới và cán bộ địa chính xã H tiến

hành đo đ c bằng má GPS 76 CSX xác định được diện tích đất bị cáo T N chiếm là 22.600 m2 vị trí có điểm tọa độ: (1240135.00-508967.00);(1240163.00-509022.00);(1240162.00-509127.00); (1239999.00-509140.00);(1239993.00-509136.00); (1239980.00-509069.00); (1239980.00-509065.00);(1239980.00-509061.00); (1239983.00-509059.00); (1240026.00-509048.00); (1240027.00-509019.00); (1240104.00-509009.00); (1240110.00-508995.00); (1240135.00-508954.00).

Ngà 25 tháng 7 năm 2019, Ủy ban nhân dân xã H làm việc với T N giải

thích về nguồn gốc đất t i khu vực nà và các qu định của pháp luật về đất đai đồng thời vận động T N giao trả đất đã chiếm cho nhà nước quản lý nếu muốn canh tác thì làm đơn xin thuê đất nhưng T N không đồng ý trả đất cũng không xin thuê đất. Qua đó Ủ ban nhân dân xã H tiến hành lập biên bản vi ph m hành chính số 39/BB-VPHC đối với T N nhưng T N không chịu ký vào biên bản.

Ngà 29 tháng 7 năm 2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H ban hành

Qu ết định xử ph t vi ph m hành chính số: 129/QĐ-XPVPHC đối với T N về hành vi chiếm diện tích 22.600 m2 nêu trên với mức ph t tiền là 2.000.000 đồng. Ngà 01 tháng 8 năm 2019, Ủy ban nhân dân xã H mời T N đến để chuyển giao Qu ết định xử ph t vi ph m hành chính T N đến làm việc nhưng không nhận qu ết định không ký tên vào biên bản giao nhận và cũng không khiếu n i thắc mắc gì.

Ngà 27/3/2020 Tổ kiểm tra đất đai của Ủy ban nhân dân xã H kiểm tra

t i khu vực L phát hiện T N tiếp t c chiếm đất có diện tích 3.991 m2 bên c nh diện tích đất đã chiếm lần 1 về phía tâ . Qua đo đ c xác định diện tích 3.991 m2 nằm t i vị trí các điểm tọa độ: (1240104.00-509009.00); (1240110.00-508955.00); (1240037.45-508953.49); (1240034.00-509005.00); (1240053.00-5099004.00); (1240053.84-509015.52).

Ngà 27 tháng 4 năm 2020 Ủy ban nhân dân xã H làm việc với T N vận

động giải thích pháp luật và êu cầu trả l i diện tích đất đã lấn chiếm cho Nhà nước quản lý, tuy nhiên T N không chấp hành giao trả đất.

Ngà 18 tháng 5 năm 2020 Ủy ban nhân dân xã H tiếp t c mời T N đến

làm việc nhưng T N không đến. Ngà 22 tháng 5 năm 2020 tiếp t c mời T N đến làm việc vận động T N trả đất l i cho Nhà nước quản lý nhưng T N không chấp hành nên Ủy ban nhân dân xã H lập biên bản vi ph m hành chính lần 2 số 15/BB-VPHC đối với T N về hành vi chiếm đất chưa sử d ng có diện tích 3.991m2. Tiến hành giao nhận biên bản vi ph m hành chính cho T N nhưng T N không nhận và cũng không ký vào biên bản giao nhận. Cùng ngà 22 tháng 5 năm 2020 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H ban hành Qu ết định số 92/QĐ-CHS chu ển hồ sơ vi ph m của T N cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an hu ện T đề xử lý theo qu định của pháp luật.

Qua điều tra xác định:

Diện tích 22.600m2 mà T N đã chiếm lần 01 t i thửa đất số 6 tờ bản đồ

số 10 m c đích BCS do nhà nước quản lý. Theo kế ho ch sử d ng đất năm

2019 của hu ện T được phê duyệt bằng qu ết định số 1117/QĐ-UBND, ngày 06

tháng 5 năm 2019 của Ủ ban nhân dân tỉnh Bình Thuận thể hiện là đất chưa sử

d ng (ký hiệu mã lo i đất là BCS).

Diện tích 3.991m2 mà T N đã chiếm lần 02 t i thửa đất số 6 tờ bản đồ số

10 và thửa đất số 7, tờ bản đồ số 11 m c đích BCS do nhà nước quản lý. Theo

kế ho ch sử d ng đất năm 2020 của hu ện T được phê du ệt bằng qu ết định số

64/QĐ-UBND ngà 24 tháng 3 năm 2019 của Ủ ban nhân dân tỉnh Bình

Thuận thể hiện là đất chưa sử d ng (ký hiệu mã lo i đất là BCS).

Ngoài ra, T N còn chiếm diện tích 3.827 47m2 t i thửa đất số 4 tờ bản đồ

số 2 m c đích trồng câ hàng năm khác (ký hiệu mã lo i đất là LNK) của ông

Ngu ễn Hữu D ủ qu ền cho ông Lê Đăng T quản lý sử d ng và đầu tư trên

đất có nguồn gốc do Nhà nước cho thuê trả tiền hàng năm theo giấ chứng nhận

qu ền sử d ng đất số AP 394366 ngà 15 tháng 10 năm 2019 của Ủy ban nhân

dân hu ện T.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 125/2020/HS-ST ngày 30 tháng 11 năm

2020 của Tòa án nhân dân huyện T đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm s i khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 35

Bộ luật Hình sự.

Tu ên bố bị cáo T N ph m tội “Vi ph m các qu định về sử d ng đất

đai”.

Xử ph t bị cáo T N 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để sung vào

ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tu ên qu ết định khác về án phí và

thông báo qu ền kháng cáo cho những người tham gia tố t ng biết.

Ngà 10 tháng 12 năm 2020 bị cáo T N kháng cáo đề nghị hủ toàn bộ

bản án sơ thẩm.

T i phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp d ng điểm a khoản 1 Điều 355 và

Điều 356 Bộ luật tố t ng hình sự; Xử không chấp nhận êu cầu kháng cáo của bị

cáo giữ ngu ên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân hu ện T.

- Ý kiến của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo bị cáo

chỉ canh tác đất của bị cáo có từ trước. Do không hiểu biết pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã

được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngà 25 tháng 7 năm 2019 bị cáo T N tự ý chiếm diện tích 22.600m2

t i thửa đất số 6 tờ bản đồ số 10 thể hiện là đất bằng chưa sử d ng, do nhà nước quản lý t i khu vực L, xã H, hu ện T nên Ủ ban nhân dân xã H lập biên bản vi ph m hành chính và Chủ tịch Ủ ban nhân dân xã H đã ban hành Qu ết định xử ph t vi ph m hành chính số 129/QĐ-XPVPHC ngày 29 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo T N về hành vi chiếm diện tích 22.600m2 nêu trên với mức ph t tiền là 2.000.000 đồng nhưng bị cáo không chấp hành.

Ngà 27 tháng 3 năm 2020 bị cáo T N tiếp t c tự ý chiếm diện tích

3.991 m2 thửa đất số 6 tờ bản đồ số 10 và thửa đất số 7 tờ bản đồ số 11, thể hiện là đất bằng chưa sử d ng do nhà nước quản lý t i khu vực L bên c nh diện tích đất đã chiếm lần 1 về phía tâ nên Ủ ban nhân dân xã H lập biên bản vi ph m hành chính lần 2 số 15/BB-VPHC đối với bị cáo T N về hành vi chiếm đất có diện tích 3.991 m2.

T i Tòa cấp phúc thẩm bị cáo T N thừa nhận toàn bộ diễn biến sự việc

bị cáo đã bị chính qu ền địa phương lập biên bản vi ph m hành chính về hành vi chiếm đất nhưng bị cáo không ký. Sau khi Tòa án xét xử bị cáo biết sai bị cáo thừa nhận hành vi sai ph m không oan.

Như vậ hành vi của bị cáo T N chiếm đất trái với các qu định của

pháp luật về quản lý và sử d ng đất đai đã bị xử ph t vi ph m hành chính về hành vi nà mà còn vi ph m nên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo T N về tội “Vi ph m các qu định về sử d ng đất đai” theo khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Về hình ph t sau khi cân nhắc tính chất mức độ hành vi ph m tội

cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo qu định t i các điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự Tòa án cấp sơ thẩm đã áp d ng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử ph t bị cáo 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) là mức dưới khung hình ph t của khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Hình sự như vậ là đã xem xét khoan hồng đối với bị cáo.

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử nhận thấ không thể chấp

nhận kháng cáo của bị cáo giữ ngu ên qu ết định của bản án sơ thẩm.

Do Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo giữ

nguyên qu ết định của bản án sơ thẩm nên bị cáo T N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các qu ết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không

bị kháng cáo kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố t ng

hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T N. Giữ ngu ên bản án hình sự

sơ thẩm số 125/2020/HS-ST ngà 30 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân

hu ện T;

Tu ên bố bị cáo T N ph m tội “Vi ph m các qu định về sử d ng đất

đai”.

Căn cứ khoản 1 Điều 228; điểm s i khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 35

Bộ luật Hình sự.

Xử ph t bị cáo T N 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng) để sung vào

ngân sách Nhà nước.

Căn cứ vào: Nghị qu ết số 326/2016/UBTVQH14 ngà 30/12/2016 của Ủ

ban Thường v Quốc hội qu định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và

sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo T N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các qu ết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo không bị

kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngà hết thời h n kháng

cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngà tu ên án (12/5/2021).

Cỡ chữ