vanban.org

Bản án 53/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 10/05/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Mai Văn B cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hì… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - Bị truy tố tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Mai Văn B cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2021/HS-PT
Ngày: 10-5-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hải Vinh.

Bà Trần Thị Hà.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Thân Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 55/TLPT-HS ngày 23 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo Tạ Văn P và đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo Tạ Văn P, Mai Văn B đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HSST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Tạ Văn P, sinh năm 1976; tên gọi khác: Không có; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 4/10; con ông Tạ Văn T và bà Nguyễn Thị N (đều đã chết); có vợ: Nguyễn Thị M; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2002; tiền án: Không.

- Tiền sự: Ngày 24/7/2020 bị Công an huyện L xử phạt hành chính (phạt tiền 750.000 đồng) về hành vi đánh nhau. Chấp hành xong ngày 31/7/2020.

- Nhân thân: Bản án số 104/2011/HSPT ngày 15/6/2011 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt Tạ Văn P 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội "Đánh bạc", thời gian thử thách là 19 tháng 18 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chấp hành xong án phí, tiền phạt ngày 30/9/2011.

- Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 24/9/2020 đến ngày 30/9/2020; hiện tại ngoại, có mặt.

2. Mai Văn B, sinh năm 1972; tên gọi khác: Không có; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 7/12; con ông Mai Văn N (đã chết) và bà Bùi Thị T; có vợ: Thân Thị H; bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 1998; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 17/01/2017 bị Công an huyện L xử phạt hành chính (phạt tiền 1.500.000 đồng) về hành vi đánh bạc. Chấp hành xong tiền phạt ngày 17/01/2017.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 24/9/2020 đến ngày 30/9/2020; hiện tại ngoại, có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có một số bị cáo khác và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng không liên quan đến kháng cáo, nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 30 phút ngày 24/9/2020, Công an huyện L phối hợp với Công an xã B phát hiện bắt quả tang tại nhà ở của Nguyễn Văn Q, sinh năm 1983 ở thôn T (tức thôn Q), xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang các đối tượng Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn L1, Hoàng Xuân L, Giáp Văn S, Tạ Văn P, Mai Văn B đang có hành vi đánh bạc bằng bộ bài tú lơ khơ 52 quân dưới hình thức đánh liêng được thua bằng tiền. Ngoài ra còn có Phạm Văn T, sinh năm 1969 ở thôn T, xã B, huyện L ngồi xem đánh bạc.

Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 3.580.000 đồng trên chiếu bạc và số tiền 120.000 đồng ở góc nhà; 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài; 01 ví da màu nâu bên trong có số tiền 2.000.000 đồng và 01 chiếu cói.

Kiểm tra thu giữ trên người: Mai Văn B số tiền 770.000 đồng (đang cầm trên tay); 01 ví da màu nâu bên trong có số tiền 500.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng gold; Giáp Văn S số tiền 4.320.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu SamsungJ8 màu vàng gold; Nguyễn Văn L1 01 ví da màu nâu đen bên trong có số tiền 1.400.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen; Nguyễn Văn Q số tiền 270.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu vàng gold; Hoàng Xuân L 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen; Tạ Văn Phong 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A10S màu đen; Nguyễn Văn L 01 ví da; 01 điện thoại Samsung A10; Phạm Văn T số tiền 220.000 đồng; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 4.

Ngoài ra còn tạm giữ: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Airblade, BKS 98E1-313.69 của Tạ Văn P; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại wave, BKS 98F1-274.16 của Giáp Văn Sông; 01 xe máy nhãn hiệu Xinha, BKS 98L9-0710 của Mai Văn B; 01 xe máy nhãn hiệu Dream, BKS 98M6-6667 của Nguyễn Văn Q; 01 xe máy nhãn hiệu DETECH, BKS 98H8-8535 của Nguyễn Văn L.

Tại Cơ quan điều tra các đối tượng khai nhận như sau:

Buổi tối ngày 24/9/2020, Nguyễn Văn L rủ Nguyễn Văn Q, Nguyễn Văn L1, Mai Văn B, Phạm Văn T đến nhà L ăn cơm. Đến khoảng 20 giờ 10 phút, sau khi mọi người ăn cơm xong rủ nhau sang nhà Nguyễn Văn Q hát karaoke, mọi người hát được khoảng 15 phút thì lần lượt có Hoàng Xuân L2, Giáp Văn S, Tạ Văn P đến chơi và hát karaoke. Đến khoảng 21 giờ cùng các đối tượng rủ nhau đánh bạc tại nhà Q, Q đồng ý rồi trực tiếp ra cửa hàng tạp hóa mua bộ bài tú lơ khơ, về nhà trải chiếu ra phòng khách để cho mọi người đánh bạc. Sau đó các đối tượng L2, S, P, B, L cùng ngồi xuống bắt đầu tham gia đánh bạc còn Nguyễn Văn Q (chủ nhà) và Phạm Văn T ngồi xem không tham gia đánh bạc.

Các đối tượng thống nhất với nhau đánh bạc dưới hình thức đánh liêng, cách chơi như sau: Trước khi chơi, mỗi người chơi bỏ ra 20.000 đồng để vào giữa chiếu bạc (gọi là tiền gà). Sau đó một người cầm bộ bài chia lần lượt mỗi người ba quân, số bài còn lại sau khi chia cho người chơi xong được đặt úp xuống chiếu (trong quá trình chơi ai có bài điểm cao nhất sẽ được chia bài và phát ván đầu tiên). Cách thức tính điểm: Bài cao nhất là sáp tức là bài có 3 quân bài giống nhau, ví dụ ba cây Q hoặc ba cây K, sáp ba cây A là cao nhất, tiếp đến là dây (hay còn gọi là liêng) tức là có ba cây bài không cần đồng chất nhưng đứng liền nhau, ví dụ như 6, 7, 8 hay Q, K, A ... liêng cao nhất là Q, K, A. Nếu như những người chơi không có sáp, liêng, ảnh thì tính đến điểm, người có số điểm cao nhất sẽ thắng, trong hình thức đánh liêng các quân bài từ 10, J, Q, K không có điểm (số điểm tính bằng không), số điểm lần lượt được tính từ quân A là 1 theo thứ tự đến 9, trong cách tính điểm, điểm cao nhất là 9. Nếu những người chơi có liêng hoặc số điểm bằng nhau thì so đến chất rô, cơ, bích, tép. Như vậy trong một ván chơi ai có sáp cao nhất sẽ thắng, nếu không có sáp thì so đến liêng, không có liêng thì so đến ảnh, không có ảnh thì so đến điểm. Sau khi chia bài xong, người phát bài sẽ bỏ hoặc tiếp tục chơi, nếu người nào bỏ sẽ mất số tiền đã đặt ở dưới chiếu. Nếu những người chơi đều theo (có thể đặt cược thêm tiền lần lượt từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng và không quá 03 vòng) thì sẽ lật bài để so điểm bài, theo thứ tự từ sáp, liêng, ảnh, điểm. Người nào thắng sẽ được toàn bộ số tiền trên chiếu. Bắc là chủ nhà không thu tiền hồ song cùng tham gia đánh bạc.

Khi L2, S, P, B, L đang đánh bạc được vài ván thì Nguyễn Văn L1 đến vào cùng tham gia đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc mọi người thống nhất mỗi người bỏ ra số tiền 20.000 đồng để đưa cho Q, sau đó Q cầm số tiền 120.000 đồng rồi ra ghế ngồi xem mọi người đánh bạc. Khi L2, S, P, B, L và L1 đánh bạc đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an kiểm tra bắt quả tang. Lúc này do sợ Nguyễn Văn L1 đang cầm số tiền 120.000 đồng trên tay vứt vào góc nhà và đã bị thu giữ.

Về số tiền sử dụng vào việc đánh bạc và số tiền thu giữ trên người các đối tượng khai nhận:

Nguyễn Văn Q không tham gia đánh bạc, khi bắt quả tang thu giữ trên người số tiền 270.000 đồng, trong đó Q khai có 120.000 đồng là tiền hồ còn số tiền 150.000 đồng là tiền cá nhân không liên quan đến đánh bạc;

Giáp Văn S khai trước khi tham gia đánh bạc có số tiền 3.900.000 đồng sử dụng để đánh bạc, khi bị bắt đang thắng bạc số tiền 420.000 đồng. Số tiền 4.320.000 đồng thu giữ trên người S đang dùng vào mục đích đánh bạc;

Tạ Văn P khai trước khi tham gia đánh bạc có số tiền 2.040.000 đồng sử dụng để đánh bạc, P bỏ ra trước 40.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc tiền để dưới chiếu bạc. Số tiền 2.000.000 đồng P để trong ví da màu nâu đã bị thu giữ dùng vào mục đích đánh bạc;

Nguyễn Văn L1 khai trước khi tham gia đánh bạc có số tiền 1.600.000 đồng sử dụng để đánh bạc, Lâm bỏ trước số tiền 200.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thua bạc còn số tiền 120.000 đồng L1 vứt ra góc nhà Nguyễn Văn Q. Số tiền 1.400.000 đồng thu giữ trên người L1 khai dùng vào mục đích đánh bạc;

Mai Văn B khai trước khi tham gia đánh bạc có số tiền 1.000.000 đồng sử dụng để đánh bạc, khi bị bắt đang thắng bạc. Số tiền 770.000 đồng thu giữ trên tay và số tiền 500.000 đồng (tổng là 1.270.000đồng) thu giữ trong ví da B dùng vào mục đích đánh bạc;

Nguyễn Văn L khai trước khi tham gia đánh bạc có số tiền 770.000 đồng sử dụng để đánh bạc, khi bị bắt tiền để dưới chiếu bạc nên không rõ thắng, thua;

Hoàng Xuân L2 khai trước khi tham gia đánh bạc có số tiền hơn 700.000 đồng sử dụng để đánh bạc, khi bị bắt để tiền dưới chiếu bạc nên không rõ thắng, thua.

Như vậy, tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 12.810.000 đồng.

Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HSST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:

- Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn Q, Tạ Văn P, Mai Văn B, Giáp Văn S, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn L, Hoàng Xuân L2 phạm tội “Đánh bạc”.

- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 65 của BLHS. Xử phạt: Nguyễn Văn Q 12 (Mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo.

- Căn cứ khoản 1,3 Điều 321; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 38 của BLHS. Xử phạt: Tạ Văn P 11 (Mười một) tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

- Căn cứ khoản 1,3 Điều 321; điểm i, s khoản 1Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 65 của BLHS. Xử phạt: Giáp Văn S 11 (Mười một) tháng tù, cho hưởng án treo. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

- Căn cứ khoản 1,3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 38 của BLHS. Xử phạt: Xử phạt Mai Văn B 10 (Mười ) tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

- Căn cứ khoản 1,3 Điều 321; điểm i, s khoản 1Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 65 của BLHS đối với các bị cáo L1, L, L2.

Xử phạt: Nguyễn Văn L1 10 (Mười) tháng tù, cho hưởng án treo. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Xử phạt: Nguyễn Văn L 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Xử phạt: Hoàng Xuân L2 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra, bản án còn tuyên phần xử lý vật chứng, phần án phí, quyền kháng cáo, quyền thi hành án theo quy định.

Ngày 28/01/2021 bị cáo Tạ Văn P, Mai Văn B kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng xin giảm hình phạt và cho hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Tạ Văn P, Mai Văn B giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mình và trình bày:

Bị cáo Tạ Văn P trình bày: Án sơ thẩm xử bị cáo về tội đánh bạc là đúng, không oan, hành vi của bị cáo như án sơ thẩm xác định là đúng. Tuy nhiên bị cáo rất hối hận về hành vi của mình. Bị cáo không có ai ở nhà để trông nhà, bị cáo có con phục vụ trong quân đội, bị cáo đã nộp tiền phạt và án phí hình sự sơ thẩm. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Bị cáo Mai Văn B trình bày: Bị cáo xin thay đổi một phần kháng cáo là chỉ còn xin hưởng án treo, không xin giảm nhẹ hình phạt nữa. Án sơ thẩm xử bị cáo về tội đánh bạc là đúng, không oan, hành vi của bị cáo như án sơ thẩm xác định là đúng. Tuy nhiên bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo có anh trai là liệt sĩ do mẹ bị cáo thờ cúng và bị cáo đang sinh sống cùng mẹ, do nhận thức vi phạm pháp luật nên bị cáo đã nộp tiền phạt bổ sung và án phí sơ thẩm, hiện nay gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đói với các bị cáo đã kết luận và đề nghị:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Văn P, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo P.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Tạ Văn P 11 (Mười một) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tình từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 24/9/2020 đến ngày 30/9/2020.

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận việc xin rút một phần kháng cáo của bị cáo Mai Văn B về việc xin giảm nhẹ hình phạt, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Xử phạt Mai Văn B 10 (Mười ) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Bị cáo Tại Văn P phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Mai Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên xác định là đơn kháng cáo hợp pháp, được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

. Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo thấy:

.Về tội danh: Khoảng 21 giờ ngày 24/9/2020, Nguyễn Văn Q có hành vi chuẩn bị bài tú lơ khơ, trải chiếu cho các đối tượng Hoàng Xuân L2, Giáp Văn S, Tạ Văn P, Mai Văn B, Nguyễn Văn L1 và Nguyễn Văn L đánh bạc dưới hình thức đánh liêng tại phòng khách của gia đình để thu tiền hồ. Đến khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, khi các đối tượng L2, S, P, B, L1, L đang đánh bạc bằng hình thức đánh liêng được thua bằng tiền thì bị tổ công tác Công an huyện L phối hợp với Công an xã B bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc được xác định là 12.810.000 đồng.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Các lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm và vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Do đó Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HSST ngày 22/01/2021 xét xử đối với bị cáo Tạ Văn Phong và Mai Văn B về tội “Đánh bạc” khoản 1 Điều 321 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

.Về hình phạt chính:

Đối với bị cáo Tạ Văn P: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Đánh bạc” nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội nên hành vi phạm tội lần này cần phải nghiêm trị. Mặt khác, trong lần phạm tội này tổng số tiền đánh bạc là 12.810.000 đồng, bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền nhiều thứ hai. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 11 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo có xuất trình biên lai nộp tiền phạt, án phí. Đây là tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nhưng cũng là nghĩa vụ mà bị cáo phải thực hiện, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào khác quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo của bị cáo theo như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ và đúng quy định.

Đối với bị cáo Mai Văn B: Hội đồng xét xử thấy án sơ thẩm xử phạt bị cáo 10 tháng tù là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Trong vụ án bị cáo có vai trò thứ yếu. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần phạm tội này là lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra, bị cáo có mẹ là Bùi Thị T tham gia kháng chiến được tặng thưởng huân chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo nộp giấy tờ xác nhận bị cáo là người đang thờ cúng liệt sĩ và biên lai tiền nộp án phí, phạt bổ sung nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo bị Công an huyện L xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng đến ngày phạm tội mới đã quá 06 tháng. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi ở rõ ràng nên có đủ điều kiện hưởng án treo theo các quy định của pháp luật và Nghị Quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã xử phạt và cho bị cáo được hưởng án treo theo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp, có căn cứ và đúng quy định.

. Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không kháng cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét không đặt ra xem xét.

.Về án phí hình sự phúc thẩm:

Do kháng cáo của bị cáo Tạ Văn P không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; Do kháng cáo của bị cáo Mai Văn B được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu áp phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm a, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Văn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo Tạ Văn P.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Tạ Văn P 11 (Mười một) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tình từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 24/9/2020 đến ngày 30/9/2020.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mai Văn B, sửa bản án sơ thẩm đối với bị cáo Mai Văn B.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Xử phạt Mai Văn B 10 (Mười ) tháng tù về tội “Đánh bạc” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 20 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Mai Văn B cho UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Án phí hình sự phúc thẩm:

Căn cứ điểm a, h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo Tại Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Mai Văn B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Xác nhận bị cáo Tạ Văn P đã nộp 10.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Bắc Giang theo biên lai số AA/2016/0004125 ngày 09/4/2021.

Xác nhận bị cáo Mai Văn B đã nộp 10.200.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Bắc Giang theo biên lai số AA/2016/0004126 ngày 12/4/2021.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ