- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Mỹ U với ông Tạ Hậu G.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2021/HNGĐ-ST Ngày 12-11-2021 V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Hoàng Hân;
Bà Phan Thị Trang Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Ngày 12 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2021/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ U, sinh năm 1985 (có đơn vắng mặt).
Hộ khẩu thường trú: Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh C .
Chỗ ở hiện nay: Ấp M, xã V, huyện P, tỉnh C .
- Bị đơn: Ông Tạ Hậu G, sinh năm 1987 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện N, tỉnh C ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 4 năm 2021 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ U trình bày:
- Về hôn nhân: Năm 2016, sau thời gian tìm hiểu thì bà U và ông G đi đến hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, hôn nhân có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đất Mới, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau ngày 05/6/2017.
Lý do xin ly hôn: Bà U cho rằng quá trình vợ chồng chung sống nảy sinh mâu thuẫn do ông G thường vô cớ bỏ nhà đi, khi cự cãi thì dùng lời lẽ xúc phạm bà U, dẫn đến bất đồng kéo dài. Gia đình thân tộc đã nhiều lần hòa giải nhưng không mang lại kết quả.
Nay tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân tiếp tục duy trì cũng không hạnh phúc nên bà U yêu cầu ly hôn với ông G.
- Về con chung: Có 01 người con chung tên Tạ Thanh Cẩm Lụa (nữ), sinh ngày 04/10/2017. Hiện nay bà U đang chăm sóc con, khi ly hôn bà Uyêu cầu được trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng, tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản khai ngày 24/6/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – ông Tạ Hậu G trình bày:
- Về hôn nhân: Theo lời trình bày của bà Uvề thời gian kết hôn là đúng. Trong khoảng thời gian vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm mọi mặt trong cuộc sống, bà U không tôn trọng ông G. Gia đình thân tộc đã nhiều lần hòa giải nhưng không mang lại kết quả. Bà U yêu cầu ly hôn với ông G thì ông G đồng ý ly hôn vì duy trì cũng không hạnh phúc .
- Về con chung: Có 01 người con chung tên Tạ Thanh Cẩm Lụa (nữ), sinh ngày 04/10/2017. Hiện nay bà U đang chăm sóc con, khi ly hôn ông G yêu cầu được trực tiếp nuôi con.
- Về cấp dưỡng, tài sản chung và công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Bà U có đơn xin xét xử vắng mặt, đồng thời có văn bản giữ nguyên quan điểm yêu cầu ly hôn với ông G, yêu cầu được nuôi con, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Ông G đồng ý ly hôn với bà U, đồng ý để bà U nuôi con, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng
Bà Nguyễn Thị Mỹ U yêu cầu ly hôn với ông Tạ Hậu G, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Bà U có đơn xin xét xử vắng mặt do ảnh hưởng của dịch bệnh covid nên không thể tham gia phiên tòa. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà U là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án
- Về hôn nhân: Hồ sơ vụ án thể hiện, năm 2016, bà U và ông G quen biết và tìm hiểu nhau rồi đi đến hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức đám cưới gã theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đất Mới, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau vào ngày 05/6/2017, tại Giấy chứng nhận kết hôn số 22/2017. Vì vậy quan hệ hôn nhân của bà U với ông G được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Bà U và ông G đều xác định hôn nhân xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm kéo dài dẫn đến đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc nên bà U yêu cầu ly hôn với ông G thì ông G đồng ý ly hôn.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn hôn nhân giữa bà U và ông G đã đến mức trầm trọng, bởi lẽ vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn từ năm 2019 đến nay mà không tìm ra cách khắc phục bất đồng; ông bà không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc nhau mà mỗi người chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người khác muốn sống ra sao thì sống, đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần mà không được, bà U và ông G đã sống ly thân từ tháng 7/2020 đến nay mà vẫn tiếp tục sống ly thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà U cho ly hôn giữa bà U với ông G theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về nuôi con chung: Ông bà có với nhau 01 người con chung tên Tạ Thanh Cẩm Lụa (nữ), sinh ngày 04/10/2017, hiện nay cháu Lụa đang sống với bà U. Khi ly hôn, bà U yêu cầu được trực tiếp nuôi con, tại phiên tòa hôm nay ông G đồng ý để bà U nuôi con, trường hợp bà U không làm tốt trách nhiệm nuôi dưỡng con thì ông G sẽ yêu cầu thay đổi người nuôi con. Do cháu Lụa chưa đủ 07 tuổi nên Tòa án không làm việc với cháu để ghi nhận nguyện vọng mà ghi nhận sự tự nguyện của ông G, đồng thời xem xét đến công việc là giáo viên của bà U với mức lương nhà nước ổn định, có nhà cửa kiên cố đảm bảo mọi mặt tốt nhất cho cháu Lụa. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Lụa để bà U trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng, chia tài sản chung, công nợ: Các đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết,căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự“Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét là có cơ sở.
- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch, nguyên đơn phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 147, điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Mỹ U với ông Tạ Hậu G.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Tạ Thanh Cẩm Lụa (Nữ), sinh ngày 04/10/2017 cho bà Nguyễn Thị Mỹ U trực tiếp nuôi dưỡng.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng, tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Mỹ U chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, bà U được khấu trừ số tiề n tạ m ứ ng á n phí 300.000 đồ ng đã n ộp theo biên lai thu tiền số 0007661 ngày 27 tháng 4 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huy ện Năm Căn, tỉnh Cà Mau, không phải nộp thêm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự
5. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự. - VKSND huyện Năm Căn; - Chi cục THADS huyện Năm Căn; - UBND xã Đất Mới; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Thùy Linh |