vanban.org

Bản án 53/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội Tuyên án 12/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Lê Đỗ C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Lê Đỗ C 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đỗ C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2020/HSST
Ngày: 12/03/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Minh Hoa.

Ông Đỗ Quang Khánh.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đinh Nho Bình – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy - thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 03 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 40/2019/HSST ngày 19/02/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2020/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Đỗ C - sinh năm: 1966 tại Hà Nội; ĐKHKTT và chỗ ở: số A phố L, phường L, thị xã S, Hà Nội; Nghề nghiệp: tự do; Trình độ văn hóa: 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Huy P (đã chết); Con bà: Đỗ Thị T; Có vợ: Nguyễn Thị L; Và có 01 con sinh năm 1990; Danh chỉ bản số 670 do Công an quận Cầu Giấy lập ngày 10/11/2019; Tiền án: ngày 30/08/2004, TAND thị xã Sơn Tây xử 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (ra trại ngày 15/10/2009); ngày 15/11/2011, TAND thị xã Sơn Tây xử 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (ra trại ngày 21/08/2018); Tiền sự: không; Nhân thân: ngày 02/10/1997, TAND quận Hai Bà Trưng xử 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; ngày 05/11/1999, TAND quận Đống Đa xử 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; ngày 26/09/2001, TAND thị xã Sơn Tây xử 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; Bị bắt quả tang ngày 07/11/2019, tạm giữ, tạm giam ngày: 08/11/2019, hiện đang tạm giam tại trại giam số 01 Công an Thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 55 phút ngày 07/11/2019, tổ công tác Y3-141 Công an thành phố Hà Nội làm nhiệm vụ tại ngã tư X – H, phường D, quận C, Hà Nội phát hiện Lê Đỗ C điều khiển xe máy Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát 29V1 – 349.31 chở Nguyễn Thị L có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện thu giữ: 01 túi nilon kích thước khoảng 4x6 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng được bọc ngoài bằng băng dính màu đen trong mũ bảo hiểm C đang đội. Tại chỗ, C khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy “đá” của C mua về để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật, đưa C và L về trụ sở Công an phường Dịch Vọng Hậu làm rõ.

Ngoài ra, tổ công tác thu giữ của Lê Đỗ C 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 29U1 – 349.31, số khung RLHJA3902HY712173, số máy JA39E069231, 01 điện thoại Nokia màu trắng, sim số 0961.062.390, 01 mũ bảo hiểm màu đen, kẻ sọc trắng.

Kết luận giám định số 7193/KLGĐ-PC09 ngày 16/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon được gói bằng băng dính màu đen là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng là 1,518 gam.

Tại cơ quan công an, Lê Đỗ C khai: Khoảng trưa ngày 07/11/2019, Nguyễn Thị L (là hàng xóm) nhờ C chở xuống Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội để thăm người thân. C đồng ý và mượn xe máy Honda Wave màu trắng, biển kiểm soát 29V1 – 349.31 của chị Lê Ngọc T, (là con gái của C) để chở L đi. Do bản thân C có nhu cầu sử dụng ma túy “đá” nên sau khi xong việc, C chở L đi đến phố D, quận C, Hà Nội và bảo L ngồi đợi ở quán nước ven đường chở C đi có việc rồi sẽ quay lại đón L. Sau đó, C đi xe máy đến khu vực ngõ A phố N, quận C, Hà Nội để tìm mua ma túy “đá”. Đến nơi, C gặp và mua được của người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy “đá” được bọc ngoài bằng băng dính màu đen với giá 400.000 đồng. C cất giấu túi ma túy vào trong mũ bảo hiểm C đang đội rồi điều khiển xe máy quay trở lại phố D đón L để cùng đi về thị xã S, Hà Nội. Khi C và L đi đến khu vực ngã tư X – H, phường D, quận C, Hà Nội thì bị tổ công tác 141 kiểm tra, thu giữ tang vật như đã nêu trên. Việc C mua và cất giấu ma túy “đá” C không nói cho L biết.

Xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Lê Đỗ C cho kết quả dương tính với ma túy.

Nguyễn Thị L khai: Việc C mua và cất giấu ma túy “đá” trong mũ bảo hiểm Lam không biết và C cũng không nói cho L biết, chỉ đến khi cơ quan công an kiểm tra thu giữ, L mới biết C cất giấu ma túy trong người. Lời khai của Lê Đỗ C phù hợp với lời khai của Nguyễn Thị L, lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với Nguyễn Thị L, do L không biết việc C mua và giấu ma túy trong người, nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với L. Xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Thị L cho kết quả dương tính với ma túy nên cơ quan điều tra đã thông báo cho chính quyền địa phương biết về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của L để theo, quản lý.

Đối với đối tượng bán ma túy cho C, do C không có thông tin về tên tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 29U1 – 349.31 số khung RLHJA3902HY712173, số máy JA39E069231, xác minh cho kết quả chủ xe mang tên Lê Ngọc T (sinh năm: 1990, Trú tại: số A, phố L, phường L, thị xã S, Hà Nội). Chị T khai phù hợp với lời khai của C về việc chị T không biết C mượn xe để đi mua ma túy nên ngày 21/01/2020, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 26 trả lại chiếc xe máy trên cho chị T. Chị T đã nhận lại xe và không có đề nghị gì khác.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu trắng lắp sim số 0961.062.390 thu giữ của Lê Đỗ C, quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án.

Bản cáo trạng số 54/CT-VKSCG ngày 18/02/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố Lê Đỗ C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố Lê Đỗ C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy và đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt: Lê Đỗ C từ 5 năm 6 tháng tù đến 06 năm 6 tháng tù. Miễn phạt tiền cho bị cáo. Vật chứng là ma túy và 01 mũ bảo hiểm cần tịch thu tiêu hủy. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Nokia.

Căn cứ vào những chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Cầu Giấy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những lời khai bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được, do vậy có đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 55 phút ngày 07/11/2019, tại ngã tư X – H, phường D, quận C, Hà Nội, tổ công tác Y3 – 141 Công an thành phố Hà Nội bắt quả tang Lê Đỗ C có hành vi tàng trữ 1,518 gam Methamphetamin, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Nhân thân của bị cáo xấu. Từ năm 1997 đến năm 2011, bị cáo có 05 tiền án về các tội Trộm cắp tài sản và Mua bán trái phép chất ma túy. Trong đó, có 02 tiền án năm 2004 và 2011 của bị cáo chưa được xóa. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là phù hợp quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước vể ma túy, đã tự hủy hoại sức khỏe của con người gây ảnh hưởng xấu tới sự phát triển lành mạnh của xã hội, cũng như gây mất trật tự trị an tại địa phương nơi có tội phạm xảy ra. Bản thân bị cáo là người đã trưởng thành, có nhận thức đầy đủ về tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật, nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Khi lượng hình Hội đồng xét xử xét bị cáo khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải để áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về vật chứng: ma túy và 01 mũ bảo hiểm màu đen, kẻ sọc trắng bị cáo dùng để cất dấu ma túy cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu trắng bên trong có sim số 0961.062.390 thu giữ của Lê Đỗ C, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Chiếc xe máy đã trả lại cho chủ sở hữu, chị T không có yêu cầu gì nên Tòa án không xem xét.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm Sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Đỗ C từ 5 năm 6 tháng tù đến 6 năm6 tháng tù là phù hợp với hành vi của bị cáo.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm o khoản 2 Điều 249; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Điều 106, Điều 136, Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Lê Đỗ C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lê Đỗ C 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2019.

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của đối tượng Lê Đỗ C, Nguyễn Thị L và giám định viên Vũ Việt C bên trong có chứa: tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon được gói bằng băng dính màu đen (thu giữ của Lê Đỗ C) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng là 1,518 gam; 01 mũ bảo hiểm màu đen, kẻ sọc trắng.

Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động Nokia màu trắng, bên trong có sim số 0961.062.390, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

(theo Biên bản giao nhận vật chứng số 96 ngày 20/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận Cầu Giấy).

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ