vanban.org

Bản án 53/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Thị Hồng P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. / Về vật chứng của vụ án, tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐẶNG THỊ HỒNG P - TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2020/HS-ST
Ngày: 05-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hiệp.

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2010/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 61/2020/QĐHPT – HS ngày 04 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

H và tên: Đặng Thị Hồng P, sinh năm 1984. Tại: B. Nơi ĐKHKTT: Số 1479, tổ 24, khu phố 4, phường H, thành phố T, tỉnh B. Trình độ h c vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Đ và bà Hồ Thị L; bị cáo chưa có chồng; bị cáo có 01 con sinh ngày 06/6/2018; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị cáo đang bị tạm giam trong một vụ án khác; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Ng c Hoàng D, sinh năm 2000. Địa chỉ: Số 55/7, khu phố 1, phường T, thành phố T, tỉnh B. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Thị Hồng P và Mai Ng c Hoàng D, sinh năm 2000. Địa chỉ: Số 55/7, khu 1, phường T, thành phố T, tỉnh B là bạn và đều là đối tượng nghiện ma túy. Sáng ngày 30/10/2019, P và D thuê phòng số 12 thuộc Nhà nghỉ O. Địa chỉ tại số 26, đường ĐX85, khu 3, phường H, thành phố T để nghỉ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, D đi đến nhà người quen tại khu 2, phường H, thành phố T chơi, còn P vẫn tiếp tục ở lại Nhà nghỉ O. Khoảng 14 giờ cùng ngày, P nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng nên P thuê xe ôm đi đến khu vực chợ Sáng thuộc huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua ma túy. Khi đến khu vực chợ Sáng thuộc huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh thì P dùng điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có số thuê bao 0338.541.XXX g i đến số thuê bao 0927.593.XXX của người nam tên Đ (Không xác định rõ h tên và địa chỉ cư trú) để hỏi mua ma túy đá với số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng thì Đ đồng ý và kêu P chạy đến trại nuôi rắn cách chợ Sáng khoảng 500m để gặp Đ lấy ma túy. Khi đến nơi, P đứng đợi Đ khoảng 10 phút thì Đ đến gặp P và đưa cho P 01 (Một) túi nylon miệng kéo dính, bên trong chứa tinh thể màu trắng, đồng thời P đưa cho Đ số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng. Sau đó, P cất túi nylon miệng kéo dính, bên trong chứa tinh thể màu trắng vào túi áo khoác P đang mặc rồi thuê xe ôm đi về Nhà nghỉ O và tiếp tục thuê phòng số 12 để nghỉ. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, P lấy 01 ít ma túy ra để sử dụng, số ma túy còn lại P cất vào túi áo khoác rồi treo lên móc treo đồ trong phòng số 12. Lúc này, D quay về phòng số 12 Nhà nghỉ O thì thấy P đang sử dụng ma túy nên D vào sử dụng ma túy chung với P. Đến khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một và Công an phường Hiệp An kiểm tra Nhà nghỉ O thì phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đặng Thị Hồng P về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong túi áo khoác treo trên móc treo đồ trong phòng số 12 mà Phượng đang thuê, vật chứng thu giữ gồm: 01 (Một) túi nylon miệng kéo dính, bên trong chứa tinh thể màu trắng (Đã được niêm phong theo quy định); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có số thuê bao 0338.541.XXX.

Ngày 31/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số 51/QĐ-CQ.CSĐT gửi đến Phòng Kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh Bình Dương để: Giám định thành phần chất ma túy trong: 01 (Một) phong bì thư được niêm phong có chữ ký của người bị bắt Đặng Thị Hồng P, có chữ ký của cán bộ niêm phong Nguyễn Thành T và hình dấu tròn đỏ của Công an phường Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, bên trong bì thư có: 01 (Một) túi nylon miệng kéo dính, bên trong chứa tinh thể màu trắng.

Ngày 07/11/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có Bản kết luận giám định số 808/MT-PC09, kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy có tr ng lượng 1,0852 gam loại Methamphetamine.

Đối với vật chứng nêu trên có khối lượng sau giám định là 1,0554gam và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, có số thuê bao 0338.541.561 không liên quan đến hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy của Đặng Thị Hồng P nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả cho Đặng Thị Hồng P.

Đối với Mai Ng c Hoàng D, quá trình điều tra xác định: Ngày 30/10/2019, D đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Đặng Thị Hồng P nên ngày 04/11/2019, Ủy ban nhân dân phường Tương Bình Hiệp, thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại phường số 415/QĐ-UBND đối với D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại phường là 03 tháng.

Đối với người nam tên Đ là người sử dụng số thuê bao di động 0927.593.XXX do quá trình điều tra không xác định rõ h , tên và địa chỉ cư trú. Ngày 26/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã ra Lệnh thu giữ điện tín số 08 yêu cầu Tổng Công ty Viễn thông Vietnamobile cung cấp thông tin chủ thuê bao đối với số thuê bao di động 0927.593.XXX (của người nam tên Đ) nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ để xử lý sau khi có đủ căn cứ.

Cáo trạng số 57/CT-VKS-HS ngày 06/02/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đặng Thị Hồng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đặng Thị Hồng P đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Thị Hồng P mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 bì thư niêm phong có chữ ký của người bị bắt, Đặng Thị Hồng P cán bộ niêm phong Nguyễn Thành T và hình dấu đỏ Công an phường Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy tr ng lượng sau giám định 1,0554gam theo kết luận giám định số 808/MT –PC09 ngày 07/11/2019 và 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy là tang vật của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

- Trả lại cho Đặng Thị Hồng P một điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Nokia màu đen, có số thuê bao 0338.541.XXX (không kiểm tra chi tiết tình trang hoạt động) do không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo.

Bị cáo Đặng Thị Hồng P không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Thị Hồng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung bị can, lời khai của người làm chứng, biên bản niêm phong, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (methamphetamine) có tr ng lượng 1,0852gam nhằm mục đích sử dụng mà bị cáo Đặng Thị Hồng P thực hiện đã hội đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Hiện nay, tình hình nghiện hút chất ma túy đang diễn ra phức tạp trong m i tầng lớp. Tệ nạn này là mối quan tâm của toàn xã hội, một trong những nguyên nhân dẫn đến tệ nạn này chưa được đẩy lùi chính là có sự tiếp tay của bị cáo. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khi phạm tội bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Đối chiếu với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, căn cứ vào nhân thân bị cáo, xét mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 bì thư niêm phong có chữ ký của người bị bắt, Đặng Thị Hồng P cán bộ niêm phong Nguyễn Thành T và hình dấu đỏ Công an phường Hiệp An, thành phố Thủ Dầu Một bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy tr ng lượng sau giám định 1,0554gam theo kết luận giám định số 808/MT –PC09 ngày 07/11/2019 và 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là tang vật của vụ án nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy cho bị cáo.

- Trả lại cho Đặng Thị Hồng P một điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Nokia màu đen, có số thuê bao 0338.541.XXX (không kiểm tra chi tiết tình trang hoạt động) do không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 136, 260 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Hồng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1./ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Thị Hồng P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2./ Về vật chứng của vụ án, tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy 01 túi nylon chứa ma túy tr ng lượng sau giám định 1,0554gam theo kết luận giám định số 808/MT – PC09 ngày 07/11/2019 và 01 (Một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

- Trả lại cho Đặng Thị Hồng P một điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Nokia màu đen, có số thuê bao 0338.541.XXX (không kiểm tra chi tiết tình trang hoạt động).

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 081.20 ngày 07/02/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

3./ Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Thị Hồng P phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ