- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 93 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2020/HS-ST Ngày: 09-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phá n – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Quốc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hưng Thái Dương;
2. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
- Thư ký phiên tòa : Bà Thân Thị Trang Nhung – Thư ký Tòa án nhân huyê ̣n Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huyê ̣n Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quốc – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyê ̣n Tân Châu, tỉnh Tây Ninh , xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số : 57/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2020/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2020 đối vớ i bị cáo:
Trần Thanh H (Đ), sinh năm 1981, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã TT, huyện Tân Châu, tinh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn V (chết) và bà Nguyễn Thị H; có vợ tên Nguyễn Thị Hồng C (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án: Tại Bản án số: 1362/2005/HSPT, ngày 23-8-2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, áp dụng điểm n, p khoản 1 Điều 93; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 18; Điều 52 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Trần Thanh H 10 năm tù, về tội giết người (chấp hành xong hình phạt tù ngày 02-8-2012, chưa thi hành số tiền bồi thường thiệt hại); tiền sự: Ngày 24-5-2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 15 tháng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tại Quyết định số 32/QĐ-TA; ngày 03-6-2019 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TT, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 03 tháng, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tại Quyết định số 176/QĐ-UBND; ngày 20-8-2019 bị Trưởng Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi đánh bạc, tại Quyết định số 40/QĐ-XPVPHC.
Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác và có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thanh H đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, đến khoảng 12 giờ ngày 19-11-2019, tại ấp TD, xã TT, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, H tiếp tục đánh bạc dưới hình thức đá gà được thắng, thua bằng tiền cùng những người khác, do Nguyễn Văn D, sinh năm: 1990, ngụ tại ấp ĐK2, xã TT, huyện Tân Châu đứng ra tổ chức thì bị bắt quả tang, cụ thể như sau:
- Gà của Huỳnh Văn M (C), sinh năm 1992; ngụ tại ấp ĐK2, xã TT, đá với gà của Tạ Văn N, sinh năm 1992; ngụ tại ấp Tà Dơ, xã TT, đá xổ 500.000 đồng, tỷ lệ cược (10/8), tức gà của N nếu thắng thì được nhận 80% của số tiền đặt cược, nếu thua thì phải chung 100% số tiền đặt cược. Trong đó, N hùn với Đàm Ngọc L, sinh năm 1977; ngụ tại ấp Tà Dơ, xã TT, mỗi người bỏ ra số tiền 250.000 đồng. Kết quả, M thắng và được nhận số tiền là 500.000 đồng và trả cho D 50.000 đồng tiền trọng tài.
Cũng cặp gà này, Nguyễn Văn T, sinh năm 1996; ngụ tại ấp ĐK2, xã TT và Tạ Văn S, sinh năm 1992; ngụ tại ấp Tà Dơ, xã TT, tự đặt cược với nhau (đá hàng sáu), T đặt cuợc gà của M, còn S đặt cược gà của N, đá với số tiền là 200.000 đồng. Kết quả, T thắng 200.000 đồng.
- Gà của Đặng Vũ Trường G, sinh năm 1997; ngụ tại ấp Tân Đông, xã TT, đá với gà của Tạ Văn N, đá xổ 500.000 đồng, tỷ lệ cược là 10/10. Trong đó, G hùn với Trần Thanh H (H 300.000 đồng, G 200.000 đồng). Kết quả, G thắng cược được 200.000 đồng, H được 300.000 đồng nhưng trả cho D 50.000 đồng tiền trọng tài, còn lại 250.000 đồng. Tổng số tiền tham gia đánh bạc của Trần Thanh H là 1.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Tang vật tạm giữ: Số tiền 1.400.000 đồng tiền Việt Nam.
* Về kê biên tài sản: Trần Thanh H (Đ) không có tài sản nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên.
Tại Bản Cáo trạng số 61/CT-VKSTC ngày 28-5-2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Trần Thanh H (Đ) về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thanh H (Đ) về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh H (Đ) từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù, về tội „Đánh bạc”.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, xử lý vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Thanh H (Đ) không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Do bị cáo không hiểu biết pháp luật nên mới vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trần Thanh H (Đ) đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử lý hành chính nhưng đến ngày 19-11-2019, H tiếp tục cùng nhiều người đánh bạc được thắng, thua bằng tiền thì bị phát hiện bắt quả tang, cùng tổng số tiền dùng để đánh bạc là 1.000.000 đồng. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Thah H (Đ) phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Bản cáo trạng đã nêu và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nên bị cáo pH chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.
Khi quyết định hình phạt cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Giết người” nhưng chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm, được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, bị cáo có 01 tiền án về tội rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích và 02 tiền sự, nhưng chưa hết thời hạn được xem là chưa bị xử lý hành chính mà lại tiếp tục phạm tội mới nên cần phải xử phạt hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai số tiền Việt Nam 1.4000.000 đồng đang bị tạm giữ, có 1.000.000 đồng là tiền dùng vào việc đánh bạc, còn 400.000 đồng là tiền riêng của bị cáo nên cần tịch thu số tiền 1.000.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước và trả lại cho bị cáo 400.000 đồng, nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Trần Thanh H (Đ) là người lao động tự do và không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với Đàm Ngọc L, Tạ Văn S, Tạ Văn N, Nguyễn Văn T, Huỳnh Văn M và Đặng Vũ Trường G có hành vi đánh bạc nhưng chưa đến mức xử lý hình sự nên chuyển xử lý hành chính là đúng quy định pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn D có hành vi tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép nhưng chưa đến mức xử lý hình sự nên chuyển xử lý hành chính là đúng quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
́
QUYÊT ĐI ̣NH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Thanh H (Đ) 09 (chín) tháng tù, về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng của bị cáo Trần Thanh H.
Tạm giữ của bị cáo Trần Thanh H số tiền 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng, để đảm bảo cho việc thi hành án.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu đang tạm giữ, theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 19-11-2019).
Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý số tiền trên để thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại số tiền tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Về án phi hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thanh H (Đ) phải chịu 200.000
́ (hai trăm nghìn) đồng tiền án phi hinh sự sơ thẩm.
́ ̀
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thanh H (Đ) có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV-TAND tỉnh Tây Ninh (01); - VKSND tỉnh Tây Ninh (01); - VKSND huyện Tân Châu (01); - VP. CQCSĐT CA huyê ̣n Tân Châu (01); - Phòng PV06 CA tỉnh Tây Ninh (01); - Chi cục THADS huyện Tân Châu (01); - Phòng lý lịch Sở Tư pháp T.Tây Ninh (01); - Nhà tạm giữ CA huyê ̣n Tân Châu (01); - Bị cáo (01); - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ (01); - Lưu tập án HSST (01). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thanh Quốc |