vanban.org

Bản án 53/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/09/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/09/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ xét xử phúc thẩm v án hình sự đối với bị cáo Phan Bá H.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Hồng V, Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 191/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã U Bình Dương về phần hình ph t như sau: 1 Áp d ng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm v án hình sự đối với bị cáo Phan Bá H.
  • Căn cứ chính? Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 348 Bộ luật Tố t ng Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2020/HS-PT
Ngày: 12-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

m p án -

t a p iên t a: Bà Nguyễn Thị Sang;

m p án t àn viên: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;

Ông Trương Văn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2020 t i tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà xét xử công khai v án hình sự phúc thẩm th lý số 02/2020/TLPT-HS ngày 02/02/2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn T và đồng ph m. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Phan Bá H, Đặng Văn T, Nguyễn Hồng V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 191/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã U tỉnh Bình Dương.

Bị cáo có k áng cáo:

1. Nguyễn Văn T sinh năm 1982, t i tỉnh Lào Cai; hộ khẩu thường trú: Khu phố B phường T thị xã U tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V sinh năm 1953 (chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1951 (chết); bị cáo có vợ Ph m Thị T sinh năm 1983 và có 02 người con (lớn sinh năm 2003 nhỏ sinh năm 2009); tiền án tiền sự: Không; bị cáo bị t m giữ từ 25/4/2019 đến ngày 04/5/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay bị cáo có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Trịnh Văn T sinh năm 1979, t i tỉnh Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú: Khu phố B phường T thị xã U tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn T sinh năm 1952 và bà Thiều Thị N, sinh năm 1951; bị cáo có vợ tên Phan Thị N sinh năm 1980 và 02 người con (lớn sinh năm 2005 nhỏ sinh năm 2011); tiền án tiền sự: Không; bị cáo bị t m giữ từ 25/4/2019 đến ngày 04/5/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay có mặt t i phiên tòa.

3. Phan Bá H sinh năm 1991, t i tỉnh Hà Tĩnh; hộ khẩu thường trú: Thôn 8, xã D huyện Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Long sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị Bình (chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: Năm 2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An xử ph t 04 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo Bản án số 198/2014/HS-ST ngày 11/6/2014. Chấp hành án t i Tr i giam Tống Lê Chân đến ngày 17/7/2017 thì chấp hành xong bản án. Bị cáo bị bắt t m giữ t m giam từ ngày 25/4/2019 cho đến nay bị cáo vắng mặt t i phiên tòa.

4. Đặng Văn T sinh năm 1978, t i tỉnh Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú: Khu phố B phường T thị xã U tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T sinh năm 1943 (chết) và bà Lê Thị T sinh năm 1945; bị cáo có vợ tên Lê Thị H sinh năm 1983 và 02 người con (lớn sinh năm 2004 nhỏ sinh năm 2010); tiền án tiền sự: Không; bị cáo bị t m giữ từ ngày 25/4/2019 đến ngày 04/5/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay có mặt t i phiên tòa.

5. Nguyễn Hồng V sinh năm 1978, t i tỉnh Thanh Hóa; hộ khẩu thường trú: Thôn 12, xã Q thành phố H tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu A sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1959; bị cáo có vợ tên Vũ Thị T sinh năm 1983 và 02 người con (lớn sinh năm 2004 nhỏ sinh năm 2010); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp d ng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay có mặt t i phiên tòa.

Ngoài ra trong v án còn có 03 bị cáo khác người có quyền lợi nghĩa v liên quan đến v án không kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Ph m Đức L, Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Đặng Văn T, Phan Bá H, Trần Thanh C, Tống Văn L và Nguyễn Hồng V có mối quan hệ là b n với nhau.

Khoảng 13 giờ ngày 24/4/2019, Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T và Nguyễn Hồng V ngồi uống bia cùng với nhau t i nhà của Trịnh Văn T thì Nguyễn Văn T có rủ Nguyễn Hồng V và Trịnh Văn T sau khi uống bia xong thì chơi đánh bài Trịnh Văn T và Nguyễn Hồng V đồng ý. Lúc này Nguyễn Văn T dùng điện tho i di động gọi điện cho Ph m Đức L để rủ Ph m Đức L chơi đánh bài đồng thời Nguyễn Văn T nói Ph m Đức L cho mượn nhà của Ph m Đức L để chơi đánh bài Ph m Đức L đồng ý. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày sau khi uống bia xong thì Nguyễn Văn T, Nguyễn Hồng V và Trịnh Văn T lần lượt đến nhà của Ph m Đức L t i khu phố B phường T thị xã U Bình Dương. Khi đến nơi do Ph m Đức L đang tiếp khách nên Nguyễn Hồng V, Nguyễn Văn T và Trịnh Văn T đi ra bàn ghế đá phía sau nhà của Ph m Đức L để uống nước chờ Ph m Đức L. Khoảng 15 phút sau, Ph m Đức L đi đến bàn ghế đá và ngồi nói chuyện với Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T và Nguyễn Hồng V. Trong lúc ngồi nói chuyện thì cả nhóm Trịnh Văn T nhất là sẽ chơi đánh bài cào 03 lá thắng thua bằng tiền với số tiền đặt cược cho mỗi ván từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Sau đó cả nhóm lấy bộ bài tây 52 lá đã qua sử d ng có sẵn trong nhà Ph m Đức L rồi đi vào khu vực nhà bếp của Ph m Đức L để ngồi chơi. Cả nhóm chơi đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì Nguyễn Hồng V nghỉ chơi và đi về. Lúc này Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T và Ph m Đức L vẫn tiếp t c ngồi chơi. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày Tám đến nhà Ph m Đức Lchơi và nhìn thấy Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T và Ph m Đức Lđang ngồi chơi đánh b c nên Tám vào tham gia chơi đánh b c cùng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì lần lượt Công Hùng và Tống Văn Lcũng đến nhà của Ph m Đức L để chơi và nhìn thấy có đánh b c thì Hùng và Công vào ngồi cùng tham gia chơi với cả nhóm; còn Tống Văn Lchỉ ngồi xem cả nhóm chơi. Quá trình cả nhóm ngồi chơi đánh b c thì Ph m Đức L có nhờ Tống Văn L chơi giùm 02 ván bài thì Tống Văn L đồng ý. Nhận tin báo của quần chúng nhân dân t i nhà của Ph m Đức L có một số đối tượng đang đánh bài thắng thua bằng tiền, khoảng 10 giờ ngày 25/4/2019 lực lượng Công an phường T tiến hành kiểm tra và bắt quả tang Ph m Đức L, Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Đặng Văn T, Phan Bá H, Trần Thanh C đang chơi đánh bài cào 03 lá, còn Nguyễn Hồng V và Tống Văn Lngồi xem thu giữ 01 bộ bài tây 52 lá đã sử d ng thu giữ t i khu vực bồn rửa chén số tiền 6.400.000 đồng; thu giữ t i góc bếp số tiền 55.500.000 đồng; thu giữ trong nhà vệ sinh số tiền 44.500.000 đồng. Sau đó, Công an phường T mời Ph m Đức L, Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Đặng Văn T, Phan Bá H, Trần Thanh C Tống Văn Long Nguyễn Hồng Vvề tr s Công an phường T để làm việc. T i đây Ph m Đức L, Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Đặng Văn T, Phan Bá H, Trần Thanh C, Nguyễn Hồng V, Tống Văn Lđã khai nhận toàn bộ hành vi tham gia đánh b c t i nhà của Ph m Đức L. Sau đó, Công an phường T tiến hành xác lập hồ sơ ban đầu và chuyển giao cho Công an thị xã U th lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận c thể như sau:

Nguyễn Văn T khai nhận: Ngày 24/4/2019, Nguyễn Văn T mang theo 35.500.000 đồng và sử d ng 6.500.000 đồng để đánh bài với Nguyễn Hồng V, Trịnh Văn T, Long còn l i số tiền 29.000.000 đồng Nguyễn Văn T bỏ trong người là số tiền Nguyễn Văn T dùng để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 16 giờ thì Nguyễn Hồng V hết tiền đi về sau đó có thêm Tám Công Hùng tham gia chơi cùng. Đến khoảng 10 giờ sáng ngày 25/4/2019 thì bị Công an phường T vào bắt quả tang. Lúc bị bắt Nguyễn Văn T thắng được 1.500.000 đồng. Bị thu giữ trên người tổng số tiền là 37.000.000 đồng.

Trịnh Văn T khai nhận: Ngày 24/4/2019 khi đến nhà Đức Long Trịnh Văn T có đem theo số tiền là 84.600.000 đồng Trịnh Văn T trả nợ cho Nguyễn Thị Lan Anh số tiền là 40.000.000 đồng. Còn l i 44.600.000 đồng Trịnh Văn T sử d ng số tiền 4.600.000 đồng để đánh bài cùng với Nguyễn Văn T, Nguyễn Hồng V Đức Long sau đó thì Nguyễn Hồng V hết tiền nên đi về. Sau đó thì có Tám Công Hùng Long cùng tham gia khi chơi thì Trịnh Văn T thua hết số tiền4.600.000 đồng nên sử d ng số tiền 40.000.000 đồng để tiếp t c chơi bài. Khi đang chơi thì Công an phường T vào bắt quả tang. Lúc này Trịnh Văn T vứt 44.500.000 đồng vào nhà vệ sinh của nhà Đức Long còn 900.000 đồng thì bỏ vào trong Nguyễn Văn Ti quần và bị công an thu giữ toàn bộ số tiền của trên. Khi bị bắt Trịnh Văn T thắng được 800.000 đồng.

Ph m Đức L khai nhận: Ngày 24/4/2019 khi tham giá đánh bài cùng với Trịnh Văn T, Nguyễn Hồng V, Nguyễn Văn T thì Long sử d ng số tiền 3.000.000 đồng để chơi. Sau khi Nguyễn Hồng V nghỉ đi về thì có Tám, Công, Hùng, Long đến tham gia chơi cùng thì Ph m Đức L tiếp t c sử d ng 17.000.000 đồng để chơi. Khi Công an phường T vào bắt quả tang Long đã vứt 6.400.000 đồng vào bồn rửa chén gần vị trí đánh b c. Còn 5.500.000 đồng còn l i Long bỏ vào trong Nguyễn Văn Ti quần đang mặc trên người. Trong lúc Long đang ngồi chơi đánh bài thì được người b n tên Mai Quốc Huy đến trả nợ tiền tiệc đám cưới với số tiền là 55.500.000 đồng. Khi ngồi chơi đánh b c thì Long bỏ số tiền này trong Nguyễn Văn Ti quần tuy nhiên khi công an đến bắt thì Long đã vứt số tiền này vào góc bếp và sau đó bị công an thu giữ. Quá trình chơi đánh b c thì Long có nhờ Tống Văn Lchơi giùm 02 ván bài mỗi ván 500.000 đồng và cả 02 ván đều thua. Khi bị bắt thì Long chơi thua hết 8.100.000 đồng.

Phan Bá H khai nhận: Ngày 24/4/2019, mang theo số tiền 43.500.000 đồng và sử d ng 5.500.000 đồng để tham gia đánh b c. Khi công an ập vào bắt giữ thì Hùng thắng được 15.000.000 đồng. Bị thu giữ trên người là 58.500.000 đồng.

Đặng Văn T khai nhận: Ngày 24/4/2019, Tám mang theo số tiền 8.900.000 đồng và sử d ng hết số tiền này để tham gia đánh b c. Khi công an vào bắt giữ thì Tám chơi thua hết 8.400.000 đồng. Bị thu giữ trên người 500.000 đồng.

Trần Thanh C khai nhận: Ngày 24/4/2019, Công mang theo 1.200.000 đồng và sử d ng số tiền 400.000 đồng để chơi. Khi công an ập vào bắt giữ thì Công chơi thua hết 400.000 đồng bị thu giữ trên người số tiền 800.000 đồng.

Tống Văn L khai nhận: Ngày 24/4/2019, Tống Văn L cùng với Phan Bá H đến nhà của Ph m Đức L để Phan Bá H bàn chuyện làm ăn với vợ Ph m Đức L tên là Lan A. Khi thấy Ph m Đức L cùng một số người khác đang ngồi chơi đánh bài cào 03 lá thắng thua bằng tiền thì Tống Văn L ngồi xem họ chơi. Trong lúc ngồi xem thì Ph m Đức L có nhờ Tống Văn L chơi giùm 02 ván thì Tống Văn L đồng ý. Tống Văn L chơi 02 ván mỗi ván 500.000 đồng cả 02 ván Tống Văn L đều thua.

Nguyễn Hồng V khai nhận: Ngày 24/4/2019, Nguyễn Hồng V có mang theo số tiền 1.100.000 đồng và sử d ng hết số tiền này để chơi đánh b c cùng với Nguyễn Văn T, Ph m Đức L, Trịnh Văn T. Khi chơi được khoảng 01 tiếng thì Nguyễn Hồng V nghỉ chơi để về nhà đi chợ và đón con đi học lúc này Nguyễn Hồng V kiểm tra tiền thì biết chơi thua hết 400.000 đồng còn l i 700.000 đồng.

Căn cứ vào biên bản bắt người ph m tội quả tang và lời khai của các bị can Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Ph m Đức L, Đặng Văn T, Phan Bá H, Trần Thanh C, Tống Văn L xác định tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh b c là 85.900.000 đồng. Số tiền Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Ph m Đức L, Nguyễn Hồng Vsử d ng để đánh b c là 15.200.000 đồng.

Cáo tr ng số 195/CT-VKS.TU ngày 18/10/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã U tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Ph m Đức L, Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Đặng Văn T, Phan Bá H, Trần Thanh C, Tống Văn Lvề tội “Đánh b c” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự và Nguyễn Hồng V về tội “Đánh b c” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

T i Bản án hình sự sơ thẩm số 191/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã U tỉnh Bình Dương tuyên xử:

Tuyên bố các bị cáo Ph m Đức L, Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Đặng Văn T, Phan Bá H, Trần Thanh C, Tống Văn L và Nguyễn Hồng V ph m tội “Đánh b c”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử ph t: Bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; bị cáo Trịnh Văn T 04 (bốn) năm tù; bị cáo Đặng Văn T 03 (ba) năm tù.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Xử ph t bị cáo Nguyễn Hồng V06 (sáu) tháng tù. Thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử ph t: Bị cáo Phan Bá H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Ngoài ra bản án còn tuyên ph t các bị cáo Ph m Đức L, Trần Thanh C và Tống Văn Lmỗi bị cáo 03 (ba) năm tù nhưng cho hư ng án treo.

Sau khi xét xử ngày 20/11/2019 bị cáo Phan Bá H kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t. Ngày 20/11/2019 bị cáo Nguyễn Hồng Vkháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và được hư ng án treo. Ngày 21/11/2019 bị cáo Trịnh Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và được hư ng án treo; bị cáo Nguyễn Văn Tkháng cáo xin hư ng án treo. Ngày 22/11/2019, Đặng Văn T kháng cáo xin được hư ng án treo.

Ngày 29/4/2020 bị cáo Phan Bá H có đơn rút kháng cáo.

T i phiên tòa các bị cáo Đặng Văn T, Trịnh Văn T, Nguyễn Hồng V vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo Nguyễn Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát n ân dân tỉn Bìn Dương t am gia p iên t a trìn bày quan điểm giải quyết vụ án: Về thời h n kháng cáo đơn kháng cáo của các bị cáo đúng theo thời h n luật định. Trước khi m phiên tòa bị cáo Phan Bá H đã rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện đúng quy định của pháp luật do vậy đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Phan Bá H. Bị cáo Nguyễn Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt bị cáo Nguyễn Hồng V, Đặng Văn T, Trịnh Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. T i phiên tòa phúc thẩm các bị cáo thừa nhận hành vi ph m tội như bản án sơ thẩm xác định. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhân thân của các bị cáo xét xử về tội “Đánh b c” theo quy định t i điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người đúng tội. Các bị cáo Nguyễn Văn T, Đặng Văn T, Trịnh Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và xin hư ng án treo nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm. Đối với bị cáo Nguyễn Hồng V bị cáo ph m tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng sau khi ph m tội đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp d ng hình ph t tiền đối với bị cáo cũng đủ răn đe giáo d c đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng V sửa bản án sơ thẩm xử ph t bị cáo Nguyễn Hồng Vsố tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Trong lời nói sau cùng các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t và được hư ng án treo để bị cáo có cơ hội chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ t c tố t ng: Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Phan Bá H kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình ph t. Ngày 29 tháng 4 năm 2019 bị cáo có đơn rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Xét thấy, việc rút kháng cáo của các bị cáo là tự nguyện đúng quy định của pháp luật do vậy căn cứ vào Điều 348 Bộ luật Tố t ng Hình sự Hội đồng xét xử sẽ đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Phan Bá H. Bị cáo Nguyễn Văn T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 290 Bộ luật Tố t ng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Về nội dung: Khoảng 13 giờ ngày 24/4/2019 t i nhà Ph m Đức L (khu phố B phường T thị xã U Bình Dương) Nguyễn Hồng V cùng với Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Ph m Đức L cùng nhau đánh b c dưới hình thức đánh bài cào thắng thua bằng tiền tổng số tiền các bị cáo sử d ng để đánh b c là 15.200.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ bị cáo Nguyễn Hồng V nghỉ chơi và ra về các bị cáo Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Ph m Đức Lvẫn tiếp t c chơi. Sau đó Đặng Văn T, Phan Bá H, Trần Thanh C, Tống Văn L lần lượt đến nhà bị cáo Ph m Đức L cùng tham gia đánh b c đến khoảng 10 giờ ngày 25/4/2019 thì lực lượng Công an phường T tiến hành kiểm tra và bắt quả tang, tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh b c là 85.900.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Đặng Văn T, Phan Bá H, Trần Thanh C, Tống Văn L, Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Ph m Đức L về tội “Đánh b c” theo quy định t i điểm b khoản 2 Điều 321; xét xử bị cáo Nguyễn Hồng Vvề tội “Đánh b c” quy định t i khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ đúng pháp luật.

Xét kháng của các bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T, Nguyễn Hồng Vvề việc xin giảm nhẹ hình ph t và được hư ng án treo Hội đồng xét xử nhận thấy:

Đối với bị cáo Nguyễn Hồng V: Bị cáo sử d ng số tiền đánh b c không lớn (1.100.000 đồng), sau khi ph m tội đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải bị cáo ph m tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt ngoài lần ph m tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của nhà nước. Do đó không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, áp d ng hình ph t tiền cũng đủ sức răn đe giáo d c đối với bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng hình tù đối với bị cáo là nghiêm khắc chưa phù hợp với tính chất mức độ ph m tội của bị cáo và phân hóa vai trò của từng bị cáo trong v án. Do vậy kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t của bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

Đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T: Bị cáo Nguyễn Văn T sử d ng 6.500.000 đồng tham gia đánh b c nhưng bị cáo là người kh i xướng rủ rê các bị cáo khác cùng tham gia đánh b c bị cáo Trịnh Văn T sử d ng số tiền lớn (46.400.000 đồng) tham gia đánh b c; các bị cáo Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T tham gia đánh b c xuyên suốt từ khoảng 14 giờ ngày 24/4/2019 đến khoảng 10 giờ ngày 25/4/2019 thì bị bắt quả tang. Với tính chất mức độ thực hiện tội ph m của các bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm áp d ng hình ph t tù có thời h n là phù hợp. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và được hư ng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào khác. Tuy nhiên các bị cáo đều là người lao động có nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự mức án 04 năm tù đối với bị cáo Trịnh Văn T 03 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Văn T là nghiêm khắc chưa cân xứng phân hóa vai trò của từng bị cáo trong v án. Do vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình ph t cho các bị cáo.

Đối với kháng cáo xin hư ng án treo bị cáo Đặng Văn T Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xử ph t 03 năm tù, bị cáo có nhân thân tốt từng tham gia thực hiện nghĩa v Dân quân tự vệ t i Ủy ban nhân dân phường Bình Chuẩn thị xã Thuận An 04 năm liên t c; ngoài lần ph m tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa v của công dân nơi cư trú; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Trường hợp của Đặng Văn T đủ điều kiện để cho hư ng án treo quy định t i Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Điều 2 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp d ng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội t o điều kiện cho bị cáo được tự cải t o sửa chữa bản thân làm người có ích cho xã hội; đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người ph m tội biết ăn năn hối cải đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người ph m tội kháng cáo của bị cáo Đặng Văn T là có cơ s chấp nhận.

Quan điểm giải quyết v án của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hồng Vlà có cơ s nên Hội đồng xét xử chấp nhận; đối với kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T, Đặng Văn T, Nguyễn Hồng V, Trịnh Văn T là chưa phù hợp Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định hình ph t đối với các bị cáo cho phù hợp với tính chất mức độ hành vi ph m tội của các bị cáo.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí phúc thẩm: Các bị cáo không phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b đ khoản 1 Điều 355 và điểm c đ e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự;

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm v án hình sự đối với bị cáo Phan Bá H.

2. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Văn T, Nguyễn Hồng V, Nguyễn Văn T, Trịnh Văn T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 191/2019/HS-ST ngày 19/11/2019 của Tòa án nhân dân thị xã U Bình Dương về phần hình ph t như sau:

2.1 Áp d ng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

- Xử ph t: Bị cáo Nguyễn Văn T03 (ba) năm tù về tội “Đánh b c”. Thời h n tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án khấu trừ thời gian t m giữ từ ngày 25/4/2019 đến ngày 04/5/2019.

- Xử ph t: Bị cáo Trịnh Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù tội “Đánh b c”. Thời h n tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án khấu trừ thời gian t m giữ từ ngày 25/4/2019 đến ngày 04/5/2019.

2.2 Áp d ng điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử ph t: Bị cáo Đặng Văn T 03 (ba) năm tù về tội “Đánh b c” nhưng cho hư ng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm thời gian thử thách tính từ ngày Tòa tuyên án phúc thẩm (12/5/2020).

Giao bị cáo Đặng Văn T về Ủy ban nhân dân phường T thị xã U tỉnh Bình Dương trực tiếp giám sát giáo d c trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Đặng Văn T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hư ng án treo cố ý vi ph m nghĩa v 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hư ng án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hư ng án treo.

2.3 Áp d ng khoản 1 Điều 321; điểm i s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);

Xử ph t bị cáo Nguyễn Hồng Vsố tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng về tội “Đánh b c”.

3. Án phí phúc thẩm: Áp d ng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:

Các bị cáo Đặng Văn T, Trịnh Văn T, Nguyễn Văn T, Phan Bá H, Nguyễn Hồng Vkhông phải nộp.

4. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ