vanban.org

Bản án 53/2020/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 25/12/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Trung T, không chấp nhận kháng cáo của người b hại – anh Trần Đức Th.

Áp dụng: Khoản 4 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt b cáo Nguyễn Trung T 16 (Mười sáu) năm tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tải sản”. Thời gian chấp hành hình phạt của b cáo tính từ ngày 25 tháng 3 năm 2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trung T - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Trung T, không chấp nhận kháng cáo của người b hại – anh Trần Đức Th.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2020/HS-PT
Ngày: 25/12/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Tiến

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Cường

Ông Trương Công Thi

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Nhật, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Minh Lộc, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 67/2020/TLPT-HS ngày 27 tháng 10 năm 2020 đối với

cáo Nguyễn Trung T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Do có kháng cáo của cáo, b hại đối với Bản án hình sự s thẩm số 76/2020/HS-ST ngày 17/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:

Nguyễn Trung T sinh năm 1976, tại tỉnh Thanh Hóa; N i ĐKHKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn 12, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Xây dựng, kinh doanh; trình độ học vấn: 10/12; con ông Nguyễn Trung C, sinh năm 1954 và à Hoàng Th L, sinh năm 1957; cáo có vợ là Võ Th Lệ Thủy (đã ly hôn năm 2013) và Lê Th N (đã ly hôn tháng 5/2020) và 03 con; tiền án, tiền sự: không;

B cáo bắt tạm giam từ ngày 25/3/2020 đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Phư ng L1, Luật sư Văn phòng Luật sư H1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

Đ a chỉ: 81/6 đường G, khối 6a, phường T1, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

- Bị hại: Ông Trần Đức Th; sinh năm 1972; trú tại: 347/3 đường L2, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

Người bảo vệ, quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Đức Th: Ông Nguyễn Văn N1, Luật sư Văn phòng Đ, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Hữu C1; sinh năm 1989; trú tại: Tổ dân phố 6B, phường T2, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 11/2017 đến tháng 9/2018, Nguyễn Trung T (sinh năm 1976, đăng ký thường trú tại Thôn 12, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) đã có hành vi thuê 04 chiếc xe ô tô của người khác sau đó đưa đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Nội dung cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào ngày 21/11/2017, Nguyễn Trung T đến số 10, đường N2, phường T2, thành phố B thuê của anh Cao Thành V 01 chiếc xe ô tô iển số 47A-007.04, nhãn hiệu Nissan Grand Livina L10M. Hai ên lập hợp đồng thuê xe thời hạn thuê từ ngày 21/11/2017 đến ngày 21/12/2017, giá thuê 18.000.000đ/01tháng. Sau khi thuê xe ô tô iển số 47A-007.04 của anh V, T sử dụng xe đến tháng 6/2018 thì giao xe cho một người tên là B1 (trú tại tỉnh Đăk Nông, chưa rõ họ tên, đ a chỉ) để cấn trừ số tiền 150.000.000 đồng mà T đang nợ của B1. Khi giao xe thì giữa T với B1 không lập giấy tờ, hợp đồng gì. Sau khi hết thời hạn thuê xe ô tô, anh V nhiều lần liên lạc với T yêu cầu trả xe nhưng không liên lạc được. Ngày 19/3/2019, anh Cao Thành V đã gửi đ n tố giác hành vi của Nguyễn Trung T đến Công an thành phố B. C quan Cảnh sát điều tra đã thông áo truy tìm vật chứng số 59/TBĐTTH ngày 27/3/2019 đối với chiếc xe ô tô iển số 47A-007.04, nhưng đến nay C quan điều tra chưa phát hiện, thu giữ được chiếc xe này.

Vụ thứ hai: Vào ngày 05/02/2018, Nguyễn Trung T đến đ a chỉ số 347/3 đường L2, phường E, thành phố B, gặp anh Trần Đức Th để thuê chiếc xe ô tô iển số 47A-123.32, nhãn hiệu: Toyota- Innova. Hai ên lập hợp đồng thuê xe thời gian từ ngày 05/02/2018 đến ngày 05/8/2018, giá thuê xe 17.000.000đ/01tháng. Sau khi thuê xe, T đã sử dụng chiếc xe ô tô trên đến tháng 8/2018. Hết thời hạn thuê xe, anh Th nhiều lần gọi điện thoại cho T để yêu cầu trả xe nhưng không liên lạc được. Đến tháng 11/2018, anh Th kiểm tra thiết b đ nh v thì chiếc xe ô tô trên đã cắt thiết b đ nh v , không xác đ nh được v trí xe. Anh Th gọi điện thoại yêu cầu T mang xe về trả thì T nhắn tin qua điện thoại di động cho anh Th biết T đã mang xe đến tiệm cầm đồ số 289 tại số 108 đường H2, thành phố B của anh Vũ Hữu C1 cầm cố vay số tiền 60.000.000 đồng để trả nợ cá nhân, khi cầm cố thì không lập giấy tờ gì. Ngày 11/12/2018, anh Trần Đức Th đã gửi đ n tố giác đến Công an thành phố B trình áo vụ việc trên. Tại C quan điều tra, anh Vũ Hữu C1 không thừa nhận cầm cố chiếc xe nói trên. C quan Cảnh sát đều tra đã ra thông áo truy tìm vật chứng số 26/TB-ĐTTH ngày 23/01/2019 đối với chiếc xe ô tô biển số 47A-123.32, nhưng đến nay, C quan điều tra chưa phát hiện, thu giữ được chiếc xe này.

Vụ thứ ba: Vào ngày 10/6/2018, Nguyễn Trung T đến đ a chỉ số 291 đường L2, phường E, thành phố B, gặp ch Hà Th V2 để thuê chiếc xe ô tô biển số 47A-195.11, nhãn hiệu: Huyndai- Avante. Hai ên lập hợp đồng thuê xe với thời gian thuê từ ngày 10/6/2018 đến ngày 10/9/2018, giá thuê xe 500.000 đồng/01ngày. Ngày 28/6/2018, T điều khiển xe ô tô iển số 47A-195.11 chở ch Trư ng Th S. Tại đây, T cầm cố xe ô tô iển số 47A-195.11 cho à Lưu Th T3 để vay số tiền 300.000.000 đồng để cho ch Trư ng Th S vay lại. Sau khi hết thời hạn thuê xe ô tô, ch V2 nhiều lần gọi điện thoại cho T hỏi chiếc xe ô tô trên nhưng không liên lạc được, qua kiểm tra thiết b đ nh v của xe ô tô, ch V2 biết chiếc xe ô tô 47A-195.11 đang để tại thôn E1, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 19/12/2018, ch V2 đã đến Công an thành phố B trình áo sự việc. Đến ngày 02/02/2019, à T3 và ch V2 đã tự thỏa thuận thống nhất ch V2 hỗ trợ cho à T3 số tiền 30.000.000 đồng và à T3 trả lại chiếc xe ô tô 47A-195.11 cho ch V2 quản lý sử dụng.

Vụ thứ tư: Anh Trư ng Văn T4 là chủ sở hữu chiếc xe ô tô iển số 47A-232.59, nhãn hiệu Toyota, loại xe Fortuner, màu ạc. Tháng 06/2018, anh T4 giao chiếc xe ô tô trên cho cậu ruột là anh Trần Đức Th để kinh doanh d ch vụ thuê xe tự lái. Ngày 26/09/2018, tại đ a chỉ số 347/3 Lê Duẩn, phường E, thành phố B, Nguyễn Trung T đã làm hợp đồng thuê chiếc ô tô iển số 47A-232.59 của anh Trần Đức Th, thời gian thuê xe từ ngày 26/09/2018 đến hết ngày 15/10/2018, giá thuê xe là 800.000 đồng/01 ngày. Sau khi thuê được xe, chiều cùng ngày 26/9/2018, T đã tự ý mang chiếc xe ô tô trên đến nhà anh Hoàng Minh Ph để cầm cố vay số tiền 130.000.000 đồng. Sau khi vay được tiền thì T đã sử dụng để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Đến tháng 11/2018, khi hết thời hạn thuê xe nhưng không thấy T đến trả xe nên anh Trần Đức Th liên lạc với T, nhưng không liên lạc được. Kiểm tra đ nh v xe ô tô 47A-232.59 thì thấy đã cắt đ nh v . Anh Trần Đức Th đi tìm kiếm thì phát hiện xe ô tô 47A-232.59 đang đậu tại hẻm 79 đường M, thành phố B, nên ngày 08/11/2018 anh Trần Đức Th đã trình áo Công an phường T5, thành phố B. Sau khi Công an thành phố B làm việc thì anh Hoàng Minh Ph đã giao nộp chiếc xe trên cho C quan điều tra.

- Tại Bản kết luận đ nh giá tài sản số: 97/KLĐG ngày 02/5/2019, của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B xác đ nh chiếc xe ô tô iển số 47A-007.04, nhãn hiệu Nissan Grand Livina L10M, tr giá: 170.000.000 đồng.

- Tại Bản kết luận đ nh giá tài sản số: 29/KLĐG ngày 13/02/2019 của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B xác đ nh chiếc xe ô tô iển số 47A-123.32, nhãn hiệu: Toyota - Innova, đã qua sử dụng tr giá 330.000.000 đồng.

- Tại bản kết luận đ nh giá tài sản số: 30/KLĐG ngày 13/02/2019 của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B xác đ nh chiếc xe ô tô iển số 47A-195.11, nhãn hiệu: Huyndai- Avante tr giá 310.000.000 đồng.

- Tại Bản kết luận đ nh giá tài sản số: 283/KLĐG ngày 07/12/2018 của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B xác đ nh chiếc xe ô tô iển số 47A-232.59, nhãn hiệu Toyota, loại xe Fortuner, màu ạc, năm sản xuất 2011, đã qua sử dụng, tr giá: 540.000.000 đồng.

Tổng tr giá của 04 xe ô tô nêu trên là 1.350.000.000 đồng.

Tại bản Kết luận giám đ nh số: 1001/PC09 ngày 05/12/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Trung T trong các tài liệu cần giám đ nh ký hiệu A1, A2, A3 so với chữ viết, chữ ký đứng tên Nguyễn Trung T trong các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3, M4 là do cùng một người ký và viết ra.

Với các nội dung trên,

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 76/2020/HS-ST ngày 17/9/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, quyết định:

Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Tuyên ố b cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Xử phạt cáo Nguyễn Trung T16 (mười sáu) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ắt tạm giam ngày 25/3/2020.

Bản án s thẩm còn quyết đ nh về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy đ nh.

Sau khi xét xử s thẩm: Ngày 29/9/2020, cáo Nguyễn Trung T kháng cáo đề ngh xem xét giảm nhẹ hình phạt cho b cáo với lý do: Mức án 16 năm tù là quá cao so với hành vi phạm tội mà cáo đã gây ra, nên đề ngh giảm nhẹ hình phạt cho b cáo; Ngày 30/9/2020, người b hại – anh Trần Đức Th kháng cáo cho rằng chính cáo T đã gây thiệt hại cho Anh, tài sản của Anh chưa thu hồi được, bắt Anh ch u 9.740.000 đồng án phí là không đúng.

Tại phiên tòa: B cáo, người b hại vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo; Kiểm sát viên đề ngh không chấp nhận đ n kháng cáo của b cáo, người b hai, giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm thẩm số 76/2020/HS-ST ngày 17/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk; Luật sư ào chữa cho b cáo đề ngh Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho b cáo để b cáo an tâm cải tạo trong thời gian thi hành án; Luật sư ảo vệ quyền lợi cho người b hại đề ngh Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người b hại, buộc b cáo phải bồi thường số tiền mà cáo đã gây thiệt hại cho người b hại.

Sau khi nghe: B cáo, người b hại trình ày nội dung kháng cáo; quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án; Lời ào chữa của Luật sư ào chữa cho b cáo, Luật sư ảo vệ quyền lợi cho người b hại và tranh luận tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và ngh án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử s thẩm và lời khai của b cáo, hại tại phiên tòa phúc thẩm thì có c sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 9 năm 2018, cáo Nguyễn Trung T đã thuê 04 chiếc xe ô tô tr giá 1. 350.000.000 đồng của các anh: Trần Đức Th (2 xe), Cao Thành V và ch Hà Th V2 (mỗi người 01 xe). Sau khi thuê được xe, T đem 04 chiếc xe để cấn trừ nợ và cầm cố được số tiền 640.000.000 đồng sử dụng cho cá nhân. Với hành vi và hậu quả như trên, Bản án hình sự s thẩm số 76/2020/HS-ST ngày 17/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tuyên ố b cáo Nguyễn Trung T phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy đ nh tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2020 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo Nguyễn Trung T thì thấy: B cáo Nguyễn Trung T biết rõ lợi dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản của người khác là hình vi trái pháp luật. Hành vi của b cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, tài sản b cáo chiếm đoạt có giá tr 1.350.000.000 đồng nên hành vi phạm tội của b cáo truy tố và xét xử theo quy đ nh tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2020 có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. Khi quyết đ nh hình phạt đối với b cáo, Án s thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của b cáo đã gây ra; sau khi phạm tội, b cáo đã ra đầu thú khai nhận đúng hành vi phạm tội nên Bản án s thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ: “khai báo thành khẩn ” được quy đ nh tại điểm s khoản 1 và áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt b cáo 16 năm tù là không nặng, đã tư ng xứng với tính chất, mức độ phạm tội và hậu quả mà cáo đã gây ra. Sau khi xét xử s thẩm, B cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết nào mới để làm căn cứ xét giảm án nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của b cáo. Giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm thẩm số 76/2020/HS-ST ngày 17/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đối với B cáo.

. Xét kháng cáo của anh Trần Đức Th cho rằng chính cáo T đã gây thiệt hại cho Anh, tài sản của Anh chưa thu hồi được, bắt Anh ch u 9.740.000 đồng án phí là không đúng thì thấy: Trong vụ án này, cáo T đã xét xử về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tải sản” trong đó có 01 chiếc xe ô tô của anh Trần Đức Th. Do tang vật chưa thu hồi được nên anh Trần Đức Th yêu cầu bồi thường giá tr chiếc xe là 342.000.000 đồng, Bản án s thẩm đã uộc b cáo phải bồi thường chiếc xe theo đ nh giá là 330.000.000 đồng là đúng, cùng với số tiền thuê xe trong 9 tháng là 153.000.000 đồng (17.000.000 đồng x 9 tháng = 153.000.000 đồng), tổng cộng 483.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật và anh Trần Đức Th không phải ch u án phí về khoản tiền mà b cáo phải bồi thường cho anh Th. Do anh Th yêu cầu khoản bồi thường tăng thêm là 189.000.000 đồng nhưng không được chấp nhận nên anh Th phải ch u án phí dân sự s thẩm trên số tiền yêu cầu nhưng không được Tòa án chấp nhận là có căn cứ, đúng với quy đ nh tại Điều 23 và Điều 26 Ngh quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án. Kháng cáo của anh Trần Đức Th không có căn cứ để chấp nhận.

. Do kháng cáo không được chấp nhận, nên cáo phải ch u án phí hình sự phúc thẩm, anh Trần Đức Th phải ch u án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết đ nh khác của Bản án hình sự s thẩm không có kháng cáo, kháng ngh Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của b cáo Nguyễn Trung T, không chấp nhận kháng cáo của người b hại – anh Trần Đức Th. Giữ nguyên Bản án hình sự s thẩm số 76/2020/HS-ST ngày 17/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

1. Áp dụng: Khoản 4 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt b cáo Nguyễn Trung T 16 (Mười sáu) năm tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tải sản”. Thời gian chấp hành hình phạt của b cáo tính từ ngày 25 tháng 3 năm 2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 584, 587 và Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

Buộc b cáo Nguyễn Trung T phải bồi thường cho anh Trần Đức Th số tiền 483.000.000 đồng (Bốn trăm tám mư i a triệu đồng).

3. Án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm b, e khoản 2 Điều 23, Điều 29 Ngh quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

+ Buộc b cáo Nguyễn Trung T phải ch u 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

+ Buộc anh Trần Đức Th phải ch u 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.

4. Các quyết đ nh khác của Bản án s thẩm về trách nhiệm dân sự đối với những người b hại khác và các Quyết đ nh về: xử lý vật chứng, án phí s thẩm và quy đ nh về thi hành án, chậm thi hành án được thực hiện theo quyết đ nh của Bản án hình sự s thẩm số 76/2020/HS-ST ngày 17/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ