- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VÕ THI KIM LOAN Ly hôn NGUYỄN VĂN NUYN"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Võ Thị Kim L được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 53/2020/HNGĐ-ST. Ngày: 08 - 07 - 2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Hồng
Ông Hồ Xuân An.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Viện.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Lê Diệu Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 38/2020/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2020, về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXX-ST ngày 24 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị Kim L, sinh năm 1994;
Địa chỉ: 2/1 tổ 12, thôn N, xã Ph, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Tổ dân phố 4, phường T, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về hôn nhân: Chị Võ Thị Kim L và anh Nguyễn Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 16/02/2016. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn.
Theo chị L nguyên nhân là do cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, thường hay cải vả, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ hơn 01 năm trở lại đây. Trong thời gian sống ly thân anh N còn có hành động cải vả, đe dọa, đánh đập ảnh hưởng đến cuộc sống của chị L và gia đình chị L. Bản thân chị L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể đoàn tụ chung sống được nữa, không ai quan tâm chăm sóc gì đến nhau nên chị L yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.
Phía anh N cho rằng nguyên nhân mâu thuẩn vợ chồng là do chị L có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác; chị L không nghe lời anh N mà chỉ nghe theo lời mẹ; mẹ vợ thường hay xúc phạm anh N, không hàn gắn tình cảm cho con cái mà còn tìm cách xua đuổi, không cho anh N, chị L được đoàn tụ nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn. Nay chị L có yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn anh N thì anh N đồng ý ly hôn vì tình cảm vợ chồng cũng không còn.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên là Nguyễn Anh Khôi, sinh ngày 08/9/2016. Cháu Khôi đang sống cùng với chị L tại nhà cha mẹ chị L. Tại phiên tòa, chị L và anh N đều yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con và không yêu cầu cấp dưỡng cho con.
Chị L hiện đang làm nghề buôn bán, thu nhập mỗi tháng khoảng tám triệu đồng. Hiện anh N đang làm việc tại công ty Phước L thu nhập bình quân mỗi tháng hơn 7.000.000đồng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị L, anh N đều xác nhận không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện ly hôn của chị L, anh N; Về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Anh Khôi, sinh ngày 08/9/2016 cho chị Võ Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng cho con; Về tài sản chung, nợ chung: Không có ai yêu cầu gì nên không giải quyết. Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Võ Thị Kim L và anh Nguyễn Văn N là hợp pháp. Chị L và anh N đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cuộc sống vợ chồng không hòa thuận, thường hay cải vả, bất đồng quan điểm sống. Anh N thường hay gây gổ, đánh đập chị L và nghi ngờ chị L ngoại tình. Phía gia đình chị L với anh N cũng không được hòa thuận. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không giải quyết được nên đã sống ly thân nhau cách đây khoảng 1 năm, không ai còn quan tâm đến ai. Chị L yêu cầu được ly hôn và anh N cũng chấp nhận ly hôn.
Tòa án nhận thấy việc mâu thuẫn của chị L, anh N đã kéo dài, vợ chồng sống ly thân nhau, không còn quan tâm lo lắng gì cho nhau nữa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy việc chị L xin ly hôn anh N là có căn cứ phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Cháu Nguyễn Anh Khôi đang sinh sống cùng với chị L và gia đình chị L.
Tại biên bản lấy lời khai của bà Phan Thị T là mẹ ruột của chị L ngày 25/5/2020, bà T cho biết: Sau khi vợ chồng sống ly thân thì cháu Kh ở cùng với mẹ (chị L) và gia đình bà T cho đến nay. Cuộc sống của cháu đã ổn định, ông bà và gia đình rất yêu thương cháu. Chị L đang làm nghề buôn bán tại gia đình bà T, có thu nhập ổn định, gia đình bà cũng có phụ giúp một phần kinh phí để nuôi cháu.
Tòa án nhân thấy cháu Khôi đang sinh sống cùng với chị L, cuộc sống của cháu đã ổn định, chị L có công việc và thu nhập ổn định, hiện cháu đang còn nhỏ nên việc giao cháu Khôi cho chị L nuôi dưỡng là có căn cứ phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng cho con: Mặc dù đã được Hội đồng xét xử giải thích về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nhưng chị L vẫn không yêu cầu anh N cấp dưỡng cho con. Đây là sự tự nguyện của chị L nên được chấp nhận.
Về tài sản chung: Không có ai yêu cầu nên Tòa án không phải giải quyết.
Về nợ chung: Không có ai yêu cầu nên tòa án không phải giải quyết.
Về án phí: Chị Võ Thị Kim L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đồng;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Võ Thị Kim L được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Anh Khôi, sinh ngày 08/9/2016 cho chị Võ Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Khôi đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn N không phải cấp dưỡng cho con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung: Không có ai yêu cầu nên Tòa án không phải giải quyết.
4. Về nợ chung: Không có ai yêu cầu nên Tòa án không phải giải quyết.
5. Về án phí: Chị Võ Thị Kim L phải chịu án 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân dân sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số 007384 ngày 06/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà. Chị L đã nộp đủ.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 6a, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TT Huế; - VKSND TX. Hương Trà; - Chi cục THADS TX. Hương Trà; - UBND phường T; - Các đương sự; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Hữu Nam |