vanban.org

Bản án 53/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Dương Thị H và anh Phạm Xuân P.

Về nuôi con chung: Giao hai con chung Phạm Thị K, sinh ngày 07/12/2005 và Phạm T, sinh ngày 06/10/2007 cho chị Dương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Dương Thị H và anh Phạm Xuân P.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53 /2020/HNGĐ-ST
Ngày 23-9-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Lê Thị Hải Yến

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

Ông Nguyễn Trí

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 395/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 8 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 778/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

1."Nguyên"đơn: Chị Dương Thị H; nơi cư trú: Số 11/369 L, phường S, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.

2." Bị" đơn: Anh Phạm Xuân P; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 11/369 L, phường S, quận L, thành phố Hải Phòng; hiện đang thi hành án phạt tù tại Đội 26 phân trại số 3 Trại giam Xuân Nguyên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 8 năm 2020, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Dương Thị H trình bày: Chị và anh Phạm Xuân P xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND phường S, Quận L, thành phố Hải Phòng ngày 13/4/2005.

Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh P không có trách nhiệm với gia đình và thường xuyên đánh đập, không tôn trọng chị. Năm 2015 anh P sa vào con đường nghiện ma túy nên vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, căng thẳng. Sau đó đến năm 2019 anh P có vi phạm pháp luật nên đã bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và phải đi chấp hành án tại trại giam Xuân Nguyên, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Đến nay chị H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Xuân P.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị K, sinh ngày 07/12/2005 và Phạm T, sinh ngày 06/10/2007. Chị H đề nghị giao cả hai con cho chị nuôi dưỡng và không yêu cầu anh P phải đóng góp cấp dưỡng nưỡng nuôi con cùng chị.

Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai anh P trình bày: Anh và chị H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND phường S, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào năm 2005. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thiếu sự tôn trọng nhau nên thường xảy ra cãi vã, xô xát. Đến năm 2019 anh P vi phạm phát luật và phải đi chấp hành án với thời gian là 30 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” do vậy tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, đến nay chị H xin ly hôn anh cũng đồng ý và đề nghị Tòa án nhân dân quận Lê Chân giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị K, sinh ngày 07/12/2005 và Phạm T, sinh ngày 06/10/2007, ly hôn do anh P đang chấp hành án phạt tù nên đồng ý giao cả hai con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh P đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành làm việc với chính quyền địa P nơi chị H và anh P sinh sống thể hiện: Chị H và anh P xây dựng gia đình với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND phường S, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do anh P không có trách nhiệm với gia đình. Đến năm 2019 do vi phạm pháp luật nên anh P phải đi chấp hành án. Nay chị H có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ vào mâu thuẫn của chị H và anh P cũng như các quy định của pháp luật để giải quyết.

Về con chung: Chị H và anh P có 02 con chung là Phạm Thị K, sinh ngày 07/12/2005 và Phạm T, sinh ngày 06/10/2007. Do hiện nay anh P đang đi chấp hành án nên không có điều kiện nuôi dạy các con, vậy nên đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị H nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi cho cháu được tốt nhất. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con là việc của hai vợ chồng nên đại diện chính quyền địa P không có ý kiến gì.

Về tài sản chung của chị H và anh P: Đại diện chính quyền địa P không có ý kiến gì vì đây là vấn đề cá nhân, riêng tư.

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Chị H và anh P lấy nhau có đăng ký kết hôn vì vậy là hôn nhân hợp pháp.Trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần xử cho chị H được ly hôn anh P theo quy định tại Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thị K, sinh ngày 07/12/2005 và Phạm T, sinh ngày 06/10/2007, chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con và hai con cũng có nguyện vọng xin được ở với mẹ, hơn nữa hiện nay anh P đang chấp hành án không có điều kiện chăm sóc các con. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử giao cả hai con cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Không xem xét về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của chị H và anh P.

Về tài sản chung: Chi H và anh P không có yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn thì bị đơn Anh Phạm Xuân P có đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 11/369 L, phường S, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; hiện đang thi hành án phạt tù tại Đội 26 phân trại 3 Trại giam Xuân Nguyên. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Bị đơn anh Phạm Xuân P vắng mặt nhưng có đề nghị xin xét xử vắng mặt, do vậy HĐXX căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Phạm Xuân P.

- Về hôn nhân:

Việc kết hôn giữa chị Dương Thị H và anh Phạm Xuân P tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án hai bên đều xác nhận là vợ chồng có mâu thuẫn trầm trọng, đến nay tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, hai bên không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh P trên thực tế đã không còn, mâu thuẫn thực sự trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bởi vậy yêu cầu của chị Dương Thị H được ly hôn với anh Phạm Xuân P là hoàn toàn chính đáng, phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

Về nuôi con chung: Chị H và anh P có 02 con chung là Phạm Thị K, sinh ngày 07/12/2005 và Phạm T, sinh ngày 06/10/2007. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung, anh P hiện đang chấp hành án tại trại giam Xuân Nguyên đồng thời cũng có nguyện vọng đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị H nuôi dưỡng. Vì vậy HĐXX xét thấy việc giao cả hai con chung cho chị H nuôi dưỡng chăm sóc là phù hợp với điều kiện thực tế, cũng như nguyện vọng của hai cháu và phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh P có ý kiến về vấn đề cấp dưỡng nuôi con do Tòa án giải quyết.Chị H không yêu cầu anh P đóng góp nuôi con cùng chị; Do vậy HĐXX không đặt ra vấn đề giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Dương Thị H và anh Phạm Xuân P đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

Về án phí: Chị Dương Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Dương Thị H và anh Phạm Xuân P.

2. Về nuôi con chung: Giao hai con chung Phạm Thị K, sinh ngày 07/12/2005 và Phạm T, sinh ngày 06/10/2007 cho chị Dương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về án phí: Chị Dương Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền trên chị H đã nộp đủ tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0013951 ngày 11 tháng 8 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Về quyền kháng cáo: Chị Dương Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Phạm Xuân P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. " "

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ