vanban.org

Bản án 53/2019/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 30/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Phạm Thị Hoàng V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” [2]. Điều luật áp dụng và mức hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2019/HS-ST
Ngày: 30 - 8 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Niê Khánh Hải;

2. Bà Võ Thị Liên;

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hà - Th

Toà án nhân dân t nh Đ L .

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Nam Th ng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đ L xét xử sơ thẩm công hai vụ án hình sự thụ l số: 50/2019/TLST-HS, ngày 02 tháng 7 năm 2019. Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 59/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị Thanh Minh N; sinh năm 1985 tại t nh Đ k L k; nơi ĐKHKTT: Thôn X, xã H, Tp. B, t nh Đ L ; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông: Nguyễn T (chết) và bà Nguyễn Thị C – sinh năm 1948; bị cáo có chồng là Hà Mạnh C1 – sinh năm 1984 (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2003; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 04/6/2018 bị Tòa án nhân dân t nh Đ L xét xử phúc thẩm xử phạt 04 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (hiện bị cáo ch a chấp hành hình phạt của bản án này). Bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam ngày 26/4/2019 theo quyết định truy nã, hiện đang giam tại trại tạm giam Công an t nh Đ L . Có mặt tại phiên tòa.

2. Phạm Thị Hoàng V; sinh năm 1996 tại t nh Đ L ; nơi c trú: Thôn Y, xã K, thành phố B, t nh Đ L ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông: Phạm Thanh L – sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Thái T1 – sinh năm 1970; bị cáo chung sống nh vợ chồng với Nguyễn Trung T2 – sinh năm 1995; có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam ngày 10/10/2018, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an t nh Đ L . Có mặt tại phiên tòa.

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1948; nơi c trú: Thôn X, xã H, Tp. B, t nh Đ L ; (v ng mặt)

+ Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1976; nơi c trú: Thôn Z, xã W, huyện J, t nh Đ k Nông; (v ng mặt)

+ Ông Lê Ph ớc L1, sinh năm 1990; nơi c trú: Thị trấn E, huyện J, t nh Đ k Nông. (v ng mặt)

- Những người làm chứng:

+ Ông Trần H2, sinh năm 1983; nơi c trú: Xã P, huyện KP, t nh Đ k L k; (v ng mặt)

+ Ông Nguyễn Đình M, sinh năm 1977; nơi c trú: Thôn 7, xã H, Tp. B, t nh Đ L ; (v ng mặt)

+ Bà Nguyễn Thị Thái T1, sinh năm 1970; nơi c trú: Thôn Y, xã K, Tp. B, t nh Đ L ; (v ng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm t t nh sau:

Phạm Thị Hoàng V và Nguyễn Thị Thanh Minh N đều là những đối t ợng nghiện ma túy đá và quen biết nhau. Từ tháng 7/2018 V đến ở nhà N tại thôn Y, xã H, TP. B, t nh Đ L để giúp việc gia đình và đ ợc N nhờ bán ma túy cho các con nghiện. N mua ma túy của một đối t ợng tên U (ch a rõ nhân thân, lại lịch) sau đó vê phân nhỏ thành từng gói đ a cho V cùng chiếc điện thoại No ia sim số 0913672667 để ng ời mua ma túy liên hệ. Khi ng ời nghiện gọi điện thoại hoặc đến tr ớc cổng nhà N hỏi mua ma túy vả nói số tiền thì V đem ma túy ra bán qua he cổng s t rồi lấy tiền đ a cho N. Việc V bán ma túy cho N thì đ ợc N nuôi ăn ở, cho tiền hi V về thăm con và cho V ma túy đá để sử dụng cùng N. Khoảng 19h00’ ngày 10/10/2018, tr ớc hi ra hỏi nhà, N đ a cho V 02 gói ma túy để bán và V đã bán cho 02 ng ời thanh niên ( hông rõ nhân thân, lai lịch) với giá một gói là 200.000 đồng và một gói 300.000 đồng. Khoảng 21h00’ cùng ngày, N về nhà và đ a một chiếc ví màu đen bên trong chứa các gói ma túy đá (do N chia nhỏ từ tr ớc) t ơng ứng với số tiền 200.000 đồng/01 gói, 300.000 đồng/01 gói và 500.000 đồng/01 gói để cho V bán. Sau khi N đ a ma túy cho V thì V đã bán cho 01 ng ời thanh niên ( hông rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Khi V ra cổng để bán 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng cho một ng ời thanh niên ( hông rõ nhân thân, lai lịch) thì bị tổ công tác Phòng PC04 Công an t nh Đ L phát hiện b t quả tang thu giữ của Phạm Thị Hoàng V 37 gói ni lông chứa chất r n dạng tinh thể đ ợc niêm phong, 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ èm sim số 0967664748, 01 điện thoại di động hiệu No ia màu đen èm sim số 091367267 và 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Thị Hoàng V.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an t nh Đ L đã tiến hành hám xét hẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Thanh Minh N tại thôn X, xã H, TP. B, t nh Đ L phát hiện thu giữ: 07 gói ni lông màu tr ng chứa tinh thể màu tr ng; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, 01 chai thủy tinh g n ống thủy tinh hình cầu và ống nhựa tr ng, 01 bó ống thủy tinh gồm 50 ống, 01 túi ni lông trong có 227 túi nhỏ màu tr ng, miệng túi viền đỏ, 01 điện thoại Samsung màu tr ng bạc và 01 điện thoại di động hiệu No ia màu đen.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Thanh Minh N và Phạm Thị Hoàng V còn khai nhận N nhiều lần cho V sử dụng ma túy đá cùng N tại nhà của N địa ch : Thôn X, xã H, TP. B, t nh Đ L . Ngoài ra, Phạm Thị Hoàng V, Nguyễn Văn H1 và Lê Ph ớc L1 còn hai nhận N nhiều lần cho Nguyễn Văn H1 và Lê Ph ớc L1 là các con nghiện th ờng xuyên đến nhà N để mua ma túy và đ ợc N nhiều lần cho sử dụng ma túy tại nhà N.

Tại bản ết luận giám định số 909/GĐMT-PC09 ngày 16/10/2018 của phòng Kỳ thuật hình sự Công an t nh Đ L , ết luận:

Phong bì M1: Chất r n dạng tinh thể màu tr ng đựng trong 37 gói nylon đ ợc niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng hối l ợng 9,2410 gam, loại Methamphetamine. Phong bì M2: Chất r n dạng tinh thể màu tr ng đựng trong 07 gói nilon đ ợc niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng hối l ợng 23,5400 gam, loại Methamphetamine.

Tổng hối l ợng: 32,781 gam.

Tại bản ết luận giám định số 1100/ PC09 ngày 10/12/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh Đ L , ết luận:

07 túi ni lông màu tr ng có cùng ích th ớc 4cm X 7,3 cm đ ợc niêm phong trong phong bì hiệu M2 so với 144 túi ni lông có cùng ích th ớc ( hiệu M3) là cùng chủng loại, ích th ớc và màu s c.

07 túi ni lông màu tr ng có cùng ích th ớc 4cm X 7,3 cm đ ợc niêm phong trong phong bì hiệu M2 so với 52 túi ni lông có cùng ích th ớc 46cm X 9,3 cm ( hiệu M4) là cùng chủng loại, màu s c, hác nhau về ích th ớc.

07 túi ni lông màu tr ng có cùng ích th ớc 4cm X 7,3 cm đ ợc niêm phong trong phong bì hiệu M2 so với 31 túi ni lông có cùng ích th ớc 7,2 cm X 11,8 cm ( hiệu M5) là cùng chủng loại, màu s c, hác nhau về ích th ớc.

Tại bản Cáo trạng số: 49/CT – VKS – P1 ngày 28/6/2019 của Viện iểm sát nhân dân t nh Đ L đã truy tố ra tr ớc Tòa án nhân dân t nh Đ L để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm b Khoản 3 Điều 251 BLHS và điểm b, d hoản 2 Điều 256 của BLHS; đối với bị cáo Phạm Thị Hoàng V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b Khoản 3 Điều 251 của BLHS.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã hai nhận hành vi phạm tội đúng nh trong cáo trạng mà Viện iểm sát nhân dân t nh Đ L đã truy tố.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo bản cáo trạng số 49/CT - VKS – P1 ngày 28/6/2019. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Phạm Thị Hoàng V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s hoản 1, 2 Điều 51; điểm h hoản 1 Điều 52 BLHS; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N từ 17 năm đến 17 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, d hoản 2 Điều 256; điểm s hoản 1, 2 Điều 51; điểm h hoản 1 Điều 52 của BLHS; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N 07 năm đến 08 năm năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55, 56 của BLHS, tổng hợp hình phạt của 02 tội danh và 04 năm tù của bản án số số 178/2018/HSPT ngày 04 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân t nh Đ L về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” để buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N phải chấp hành từ 28 năm đến 29 năm 06 tháng tù.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s hoản 1 Điều 51 BLHS; xử phạt bị cáo Phạm Thị Hoàng V từ 16 năm đến 16 năm 6 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về xử l vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 31,8364 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 chai thủy tinh g n ống thủy tinh hình cầu và 01 ống nhựa tr ng, 50 ống thủy tinh, 227 túi ni lông màu tr ng miệng có viền đỏ.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu No ia màu đen đã cũ, trầy x ớc xung quanh, hông iểm tra tình trạng máy, số Seri: 357380049885986, IMEI 351876/02/153556/0, kèm sim Viettel số 0913672667 của Phạm Thị Hoàng V.

Tịch thu sung công quỹ Nhà n ớc: 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro màu tr ng bạc, số imei: 353317093053552, số seri: R58JA661P8R, èm 02 sim số 0968854748 và sim 04889143761; 01 điện thoại di động hiệu NoKia màu đen, số seri: 356875074883906 èm sim Viettel số 0968854748 của bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N.

Trả lại cho bị cáo: Phạm Thị Hoàng V 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ đã cũ, số IMEI 1: 867816032054737, CPHI723, máy đã qua sử dụng, trầy x ớc xung quanh, hông iểm tra tình trạng máy, èm sim số 0967664748.

Trả cho Nguyễn Thị Thanh Minh N 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Thanh Minh N; Trả cho bị cáo V 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Thị Hoàng V.

Đối với ng ời nam giới tên U ng ời mà Nguyễn Thị Thanh Minh N khai bán ma túy cho N; có dấu hiệu của tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra ch a xác định đ ợc nhân thân, lai lịch của Bi nên tách hành vi của U ra hỏi vụ án tiếp tục xác minh, xử l sau là phù hợp.

Đối với căn nhà tại thôn X, xã H, thành phố B, t nh Đ L là nơi bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N ở và thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Căn nhà trên là tài sản của bà Nguyễn Thị C (mẹ ruột của bị cáo N), sau hi bị cáo N ly hôn chồng thì bà C cho bị cáo N về ở tạm. Việc bị cáo N sử dụng căn nhà trên vào việc phạm tội thì bà C hông biết nên Cơ quan điều tra hông đề cập xử l đối với bà C và căn nhà nói trên là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện iểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những ng ời tham gia tố tụng hác hông có ng ời nào có iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N và Phạm Thị Hoàng V thuộc tr ờng hợp ch định ng ời bào chữa theo điểm a hoản 1 Điều 76 bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng nh tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều từ chối Luật s ch định. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo hoản 3 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Ngày 10/10/2018 tại thôn X, xã H TP. B, t nh Đ L , Nguyễn Thị Thanh Minh N và Phạm Thị Hoàng V có hành vi mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Phạm Thị Hoàng V bị b t quả tang. Tại bản ết luận giám định số 909/GĐMT-PC09 ngày 16/10/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an t nh Đ L , ết luận: “Phong bì M1: Chất r n dạng tinh thể màu tr ng đựng trong 37 gói nylon đ ợc niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng hối l ợng 9,2410 gam, loại Methamphetamine. Phong bì M2: Chất r n dạng tinh thể màu tr ng đựng trong 07 gói nilon đ ợc niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng hối l ợng 23,5400 gam, loại Methamphetamine.Tổng hối l ợng: 32,781 gam”. Ngoài ra Nguyễn Thị Thanh Minh N còn có hành vi chứa chấp cho Phạm Thị Hoàng V, Nguyễn Văn H1 và Lê Ph ớc L1 nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi ở của N;địa ch thôn X, xã H, TP. B, t nh Đ L với 02 tình tiết định hung là “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với 02 ng ời trở lên”. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị cáo Phạm Thị Hoàng V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện iểm sát nhân dân tình Đ L đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N và Phạm Thị Hoàng V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b hoản 3 Điều 251; riêng bị cáo N còn bị truy tố thêm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, d hoản 2 Điều 256 của BLHS là đúng ng ời, đúng tội và đúng pháp luật.

Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

…

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

…

b) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

…”

Điều 256 bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Đối với 02 người trở lên

…”

Xét tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, hông những đã xâm phạm đến sự độc quyền quản l của Nhà n ớc đối với các loại d ợc chất ma túy mà còn gây ảnh h ởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa ph ơng. Các bị cáo đủ điều iện để nhận thức đ ợc rằng các loại d ợc chất ma túy đều thuộc sự độc quyền quản l của Nhà n ớc, thông qua các cơ quan chức năng có thẩm quyền và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nghiêm ngặt; mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt hoặc chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy đều bị trừng trị nghiêm h c. Ng ời nghiện ma túy là tự tàn phá sức hỏe, làm tổn hại giống nòi và còn là nguyên nhân làm lây truyền các căn bệnh xã hội, trong đó có đại dịch HIV/AIDS đang là vấn nạn của toàn nhân loại. Nh ng do thức coi th ờng pháp luật và muốn có tiền tiêu xài, sử dụng ma túy nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Do đó, đối với các bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm h c, cách ly bị cáo ra hỏi đời sống xã hội một thời gian dài, có nh vậy mới phát huy đ ợc tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Trong vụ án có bị cáo N và bị cáo V đều thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy.Tuy nhiên tính chất, vai trò của từng bị cáo là hác nhau nên cần phân hóa để có hình phạt t ơng xứng đối với từng bị cáo. Bị cáo N là ng ời hởi x ớng, cầm đầu, rủ rê bị cáo V thực hiện hành vi phạm tội, sau hi phạm tội đã bỏ trốn và bị b t theo quyết định truy nã. Bản thân bị cáo N phạm tội hi ch a ch a chấp hành bản án 04 năm tù - thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h hoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, hình phạt đối với bị cáo N cũng phải nghiêm h c hơn so với bị cáo V.

Đối với bị cáo N tại phiên tòa hôm nay đã thành hẩn hai báo, bị cáo hiện đang mang thai (có thai sau thời điểm phạm tội) nên cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s hoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự hi l ợng hình đối với bị cáo.

Bị cáo N hiện nay ch a chấp hành 04 năm tù của Bản án số 178/2018/HSPT ngày 04 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân t nh Đ L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nên cần áp dụng điểm a hoản 1 Điều 55, hoản 2 Điều 56 bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo.

Bị cáo V với vai trò đồng phạm nh ng tính chất và mức độ thì thấp hơn bị cáo N. Bị cáo V có nhân thân tốt, sau hi phạm tội đã thành hẩn hai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình - đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đ ợc quy định tại điểm s hoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên đối với các bị cáo hi l ợng hình nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, hoan hồng của pháp luật Nhà n ớc ta.

. Về xử l vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

[3.1.] Tịch thu tiêu hủy: 31,8364 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định ; 01 chai thủy tinh g n ống thủy tinh hình cầu và 01 ống nhựa tr ng, 50 ống thủy tinh, 227 túi ni lông màu tr ng miệng có viền đỏ.

[3.2] Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu No ia màu đen đã cũ, trầy x ớc xung quanh, hông iểm tra tình trạng máy, số Seri: 357380049885986, IMEI 351876/02/153556/0, èm sim Viettel số 0913672667 của Phạm Thị Hoàng V.

Tịch thu sung công quỹ Nhà n ớc: 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro màu tr ng bạc, số imei: 353317093053552, số seri: R58JA661P8R, èm 02 sim số 0968854748 và sim 04889143761;01 điện thoại di động hiệu NoKia màu đen,số seri: 356875074883906 èm sim Viettel số 0968854748 của bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N.

[3.3] Trả lại cho bị cáo: Phạm Thị Hoàng V 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ đã cũ, số IMEI 1: 867816032054737, CPHI723, máy đã qua sử dụng, trầy x ớc xung quanh, hông iểm tra tình trạng máy, èm sim số 0967664748. (Nh ng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm công tác thi hành án).

Trả cho Nguyễn Thị Thanh Minh N 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Thanh Minh N; Trả cho bị cáo V 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Thị Hoàng V.

(Đặc điểm cụ thể của vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk và phiếu nhập kho ngày 01/7/2019).

. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Phạm Thị Hoàng V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

[2]. Điều luật áp dụng và mức hình phạt:

[2.1]. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm b, d hoản 2 Điều 256; điểm s hoản 1, 2 Điều 51; điểm h hoản 1 Điều 52, điểm a hoản 1 Điều 55, hoản 2 Điều 56 của BLHS.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N: 17 (m ời bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt của 02 tội danh trên và 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” của bản án số: 178/2018/HSPT, ngày 04/6/2018 của Tòa án nhân dân t nh Đ L . Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 28 (hai m ơi tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b t tạm giữ, tạm giam ngày 26/4/2019. Đ ợc hấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2017 đến ngày 17/01/2018.

[2.2]. Áp dụng điểm b Khoản 3 Điều 251; điểm s hoản 1 Điều 51 của BLHS;

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Hoàng V 15 (m ời lăm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày b t tạm giữ, tạm giam ngày 10/10/2018.

[3]. Xử l vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

[3.1]. Tịch thu tiêu hủy: 31,8364 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 chai thủy tinh g n ống thủy tinh hình cầu và 01 ống nhựa tr ng, 50 ống thủy tinh, 227 túi ni lông màu tr ng miệng có viền đỏ.

[3.2.]. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu No ia màu đen đã cũ, trầy x ớc xung quanh, hông iểm tra tình trạng máy, số Seri: 357380049885986, IMEI 351876/02/153556/0, kèm sim Viettel số 0913672667 của Phạm Thị Hoàng V.

01 cân tiểu ly điện tử màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7 Pro màu tr ng bạc, số imei: 353317093053552, số seri: R58JA661P8R, èm 02 sim số 0968854748 và sim 04889143761;01 điện thoại di động hiệu NoKia màu đen,số seri: 356875074883906 kèm sim Viettel số 0968854748 của bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N.

[3.3]. Trả lại cho bị cáo: Phạm Thị Hoàng V 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đỏ đã cũ, số IMEI 1: 867816032054737, CPHI723, máy đã qua sử dụng, trầy x ớc xung quanh, hông iểm tra tình trạng máy, èm sim số 0967664748. (Nh ng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm công tác thi hành án).

Trả cho Nguyễn Thị Thanh Minh N 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Thanh Minh N; Trả cho bị cáo V 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Thị Hoàng V.

(Đặc điểm cụ thể của vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk và phiếu nhập kho ngày 01/7/2019).

[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 3 Điều 21, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh Minh N và bị cáo Phạm Thị Hoàng V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa đ ợc quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án.

Ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan v ng mặt tại phiên tòa đ ợc quyền háng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày nhận đ ợc bản sao bản án hoặc bản án đ ợc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ