vanban.org

Bản án 53/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Nam Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 25/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê C 06 (Sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2018. Về dân sự: Không. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Cường - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NAM TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2019/HSST
Ngày 25/03/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Hƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đắc Tiến

Bà Nguyễn Thị Thanh Hƣờng

- Thư ký phiên toà: Bà Chu Bích Thủy – Thƣ ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 25/03/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2019/TLST-HS ngày 14/3/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2019/QĐXXST-HS ngày 19/03/2019 đối với bị cáo:

Lê C, sinh năm 1978, tại Phú Thọ; HKTT: Khu 9, xã Ninh Dân, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân Hạ, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị Oanh (đã chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Thu, sinh năm 1978, bị cáo chưa có con; Tiền sự: không; Tiền án: có 03 tiền án.

Nhân thân:

-Ngày 27/7/2006 TAND huyện Thanh Ba, Phú Thọ xử 15 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo Bản án số 17/2006/HSST. Ra trại ngày 03/9/2007. Chưa được xóa án tích.

-Ngày 30/10/2008, TAND huyện Quỳnh Nhai, Sơn La xử 30 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo Bản án số 07/2008/HSST. Ra trại ngày 09/01/2011. Chưa được xóa án tích.

-Ngày 13/02/2012 TAND huyện Gia Lâm, Hà Nội xử 7 năm 6 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo Bản án số 40/2012/HSST. Ra trại ngày 24/01/2018. Chưa được xóa án tích.

Danh chỉ bản số 00000065, lập ngày 29/12/2018 tại Công an quận Nam Từ Liêm. Bắt tạm giữ, tạm giam ngày 21/12/2018.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 21/12/2018 tại trước cổng trường tiểu học Phương Canh, phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, tổ công tác công an phường Phương Canh làm nhiệm vụ bắt quả tang Lê C có hành vi tang trữ trái phép 02 gói ma túy nên tiến hành lập biên bản thu giữ tang vật và dẫn giải về trụ sở làm việc.

Tang vật thu giữ: 02 gói giấy kích thước 0,5x1 cm bên trong có chứa chất bột màu trắng.

Kết luận giám định số 9693 ngày 29/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội xác định: Chất bột màu trắng bên trong 02 gói giấy là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng 0,112 gam.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng 13 giờ ngày 21/12/2018 lê C đi lang thang một mình tại khu vực Bến xe Mỹ Đình thì gặp một thanh niên không quen biết rủ C góp tiền mua ma túy heroin để cùng sử dụng, C đồng ý và góp 80.000 đồng cùng nam thanh niên, người đó bỏ ra 70.000 đồng được tổng cộng 150.000 đồng. Cả 2 cùng nhau đi đến nhà Vũ Văn Tuấn (sinh năm 1975, địa chỉ: tổ 4 Phú Mỹ, phường Mỹ Đình 2, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) mua của Tuấn 01 gói ma túy Heroin với giá 150.000 đồng. Sau khu mua ma túy, nam thanh niên chia làm 2 gói nhỏ và đưa cho C để tìm địa điểm cùng nhau sử dụng. Nam thanh niên điều khiển xe máy chở C đến gần khu vực ngã 4 Canh, phường Phương Canh, Nam Từ Liêm, Hà Nội dừng xe và bảo C đi bộ đến Trường Tiểu học Phương Canh đợi để anh ta đi gửi xe. Khi C cầm 2 gói ma túy đến cổng trường Tiểu học Phương Canh thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng.

Tại Cơ quan điều tra Lê C khai nhận đã hành vi phạm tội.

Đối với đối tượng Vũ Văn Tuấn không thừa nhận đã bán ma túy cho Lê C, do đó Cơ quan Công an không đủ cơ sở để xử lý đối với Vũ Văn Tuấn.

Đối với nam thanh niên góp tiền mua ma túy cùng C, do C không quen biết, không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm không có căn cứ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 11/03/2019 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Lê C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm o Khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Lê C từ 5 năm 06 tháng đến 6 năm tù.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong được làm bằng giấy trắng đã được dán kín các mép. Theo hồ sơ vụ án, bên trong phong bì chứa chất ma túy – Heroin thu giữ của Lê C. Trên mép dán có chữ ký giáp lai của giám định viên Trần Ngọc Chinh, đồng chí Lê Thanh Tùng – CB Công an phường Phương Canh và đương sự Lê C. Tình trạng bì niêm phong còn nguyên vẹn.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận: Khoảng 15 giở 30 phút ngày 21/12/2018, tại trước cổng trường Tiểu học Phương Canh, phường Phương Canh, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội. Lê C có hành vi tàng trữ trái phép 0.112 gam ma túy Heroin thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo Lê C đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện làm tổn hại sức khỏe con người, di hại cho thế hệ tương lai, là một trong những nguyên nhân gây bệnh AIDS và là mầm mống của các loại tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ… trái phép chất ma túy, nhưng vì là đối tượng nghiện nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện tội phạm với tính chất nguy hiểm cao. Về nhân thân: Bị cáo Lê C đã có 03 tiền án về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy và đều chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bải học mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm đảm bảo tính giáo dục đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong được làm bằng giấy trắng đã được dán kín các mép. Theo hồ sơ vụ án, bên trong phong bì chứa chất ma túy – Heroin thu giữ của Lê C. Trên mép dán có chữ ký giáp lai của giám định viên Trần Ngọc Chinh, đồng chí Lê Thanh Tùng – CB Công an phường Phương Canh và đương sự Lê C. Tình trạng bì niêm phong còn nguyên vẹn.

. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm o Khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê C 06 (Sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2018.

Về dân sự: Không.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong được làm bằng giấy trắng đã được dán kín các mép. Theo hồ sơ vụ án, bên trong phong bì chứa chất ma túy – Heroin thu giữ của Lê C. Trên mép dán có chữ ký giáp lai của giám định viên Trần Ngọc Chinh, đồng chí Lê Thanh Tùng – CB Công an phường Phương Canh và đương sự Lê C. Tình trạng bì niêm phong còn nguyên vẹn.

Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 99 ngày 12/03/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Nam Từ Liêm và Cơ quan Thi hành án quận Nam Từ Liêm.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Cỡ chữ