vanban.org

Bản án 53/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 26/6/2019). Giao bị cáo Đặng Văn H cho UBND xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Đặng Văn H cố ý gay thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2019/HSST
Ngày: 26/06/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn K

- Hội thẩm nhân dân: +. Ông: Trần Văn L

+. Ông: Nguyễn Tất Q

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn K – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị M – Kiểm sát viên VKSND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

Trong ngày 26 tháng 06 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân huyện Đô Lương mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2019/HSST ngày 23 tháng 05 năm 2019 đối với bị cáo: 1. Họ và tên: Đặng Văn H. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 14 tháng 02 năm 1963 Nơi cư trú: Xóm 8, xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: 07/10 Họ tên cha: Đặng Xuân Đ (Đã chết) Họ tên mẹ: Nguyễn Thị B (Đã chết) Anh chị em ruột: Có 07 người, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình Vợ: Hoàng Thị S, sinh năm 1969 Con: Có 03 người, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1998 Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ 03 ngày kể từ ngày 27/01/2019 đến ngày 30/01/2019. Hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

- Người bị hại: Ông Trần Văn N, sinh năm 1956. Có mặt. Nơi cư trú: Xóm 01, xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn M, sinh năm 1982. Có mặt. Nơi cư trú: Xóm 01, xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- Người làm chứng: Bà Dương Thị H, sinh năm 1971. Có mặt. Nơi cư trú: Xóm 01, xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 26 tháng 01 năm 2019, tại cổng nhà Đặng Văn H thuộc xóm 8, xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, do có mâu thuẫn từ trước, khi bị ông Trần Văn N tấn công, Đặng Văn H đã có hành vi dùng chốt cổng bằng kim loại đâm nhiều phát vào vùng mặt của ông Trần Văn N gây thương tích cho ông N.

Tại cơ quan điều tra, Đặng Văn H khai nhận vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 26 tháng 01 năm 2019, ông Trần Văn N chở vợ là Dương Thị H trên đường đi về nhà khi đi ngang qua cổng nhà Đặng Văn H, thấy H đứng ở thềm nhà, do mâu thuẫn từ trước nên Trần Văn N dừng xe và nói to: “H Đ mi lấy số điện thoại tau mần chi, bựa ni cha mi tau cũng giết”. Đặng Văn H vừa đi ra phía cổng vừa nói “Cha tau chết chưa chẵn năm”. Khi nghe Đặng Văn H nói vậy, ông N xuống xe đi về phía cổng nhà H, bà H xuống xe chạy theo can ngăn nhưng bị ông N đẩy ra và nói: “Bựa ni tau giết thằng ni, mi để tau”. Lúc này hai cánh cổng nhà H làm bằng sắt đang khép hờ có khoảng mở rộng 0,5m, cánh cổng bên trái (tính từ ngoài vào) đang cắm chốt bằng sắt dưới đất. Khi đi đến sát cánh cổng bên trái, Trần Văn N dùng chân đạp mạnh vào cánh cổng làm cánh cổng bung ra mở rộng khoảng hơn 1m. Khi hai người tiến lại gần cổng thì Trần Văn N nhảy lên và dùng chân đá về phía người Đặng Văn H nhưng H tránh được và nói: “Đập thật hả bay”, Trần Văn N không nói gì mà tiếp tục dùng tay không đấm H nhưng H gạt tay trái đỡ được, còn tay phải đấm một phát trúng vào mặt ông N làm ông N loạng choạng lùi phía sau gần sát cánh cổng. Đặng Văn H tiếp tục tiến lên, dùng chân phải đạp một phát trúng vào vùng hông phải của Trần Văn N khiến N ngã. Lúc này, Trần Văn N một tay bám vào cánh cổng, xoay người sang trái, dùng chân phải đá về phía người H nhưng bị H dùng tay trái bắt được, đồng thời H dùng chân phải đá một phát trúng vào khớp đầu gối chân trái làm ông N ngã xuống. Thấy vậy, bà H tiến đến đẩy H ra và nói “Xin chú đừng đập nữa”. Khi nghe bà H nói vậy, H không đánh nữa. Do lúc dùng chân đá Trần Văn N, Đặng Văn H bị văng dép rơi gần chỗ ông N nằm nên sau khi ngừng đánh, H bước qua người Trần Văn N lấy dép để đi thì bị ông N dùng hai tay ôm lấy chân trái đồng thời dùng miệng cắn vào chân trái H. Đặng Văn H không rút chân ra được nên đã dùng tay phải đấm hai phát vào mũ bảo hiểm mà Trần Văn N đang đội trên đầu nhưng đau tay quá nên H không đấm nữa. Quan sát xung quanh thấy chiếc chốt cổng màu trắng bằng kim loại ở dưới đất gần đó nên Đặng Văn H nhặt lên, cầm trên tay phải, đập hai phát vào mũ bảo hiểm mà Trần Văn N đang đội trên đầu nhưng ông N vẫn ôm chặt chân của H, không chịu buông. Đặng Văn H tiếp tục dùng chiếc chốt cổng này đâm nhiều phát vào vùng mặt của Trần Văn N, bị đâm đau nên ông N thả chân H ra, H đi vào nhà, Trần Văn N nằm bất tỉnh dưới đất. Một lúc sau dân làng kéo đến đông, H liền trốn vào nhà rơm của gia đình. Ngay sau khi sự việc xảy ra, bà H gọi điện thoại cho Trần Văn M – là con trai của ông Trần Văn N đến. Lúc đến thấy cha mình bị đánh nằm bất tỉnh dưới đất, M vào nhà tìm Đặng Văn H nhưng không thấy, sẵn có một chiếc xà beng để ở sân nhà, M liền cầm lên và dùng chiếc xà beng này phá một cánh cửa gỗ gian nhà chính của H. Sau đó, Trần Văn M đi ra cùng gia đình đưa ông Trần Văn N đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Đô Lương. Đến sáng ngày hôm sau, Đặng Văn H đến cơ quan Công an huyện Đô Lương đầu thú về hành vi của mình.

Hậu quả ông Trần Văn N bị đa thương tích phải nhập viện điều trị từ ngày 26 tháng 01 năm 2019 đến ngày 31 tháng 01 năm 2019.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 26 tháng 01 năm 2019 của Trần Văn N thể hiện: Vùng mặt có đa vết thương. Vùng gò má phải có 01 (một) vết thương rách da dài 03 (cm) sâu sát xương gò má. Cánh mũi phải có 01 vết thương rách da hình chữ L dài 02 (cm). Vùng trước tai phải có vết thương, 01 (một) vết rách da nham nhở hình chữ V dài 02 (cm). Vùng dưới gò má trái có 01 vết thương rách da dài 02 (cm)

Ngày 19 tháng 02 năm 2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương ra quyết định trưng cầu Trung tâm pháp y Nghệ An giám định tỷ lệ % thương tích của ông Trần Văn N.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 30/TTPY ngày 19/02/2019 của Trung tâm pháp y Sở y tế Nghệ An kết luận:

“1 - Chấn động não đã được điều trị ổn định.

- Gãy cung tiếp gò má bên phải, đã được điều trị bằng nội khoa, hiện tại ổn định.

- Một số sẹo vết thương vùng mặt tại các vị trí: Ngoài đuôi mắt bên phải; phía trước tai phải; gốc cánh mũi bên phải và má bên trái có ảnh hưởng thẩm mỹ.

2. Tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 21 % (Hai mươi mốt phần trăm)”.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 27 tháng 01 năm 2019 của Đặng Văn H thể hiện có 01 vết thương trầy xước mất lớp thượng bì da tại mặt trên giữa đốt 2 3 ngón trỏ tay phải, kích thước (01x01) cm; 01 vết thương trầy xước mất lớp thượng bì da tại mặt trên giữa đốt 1 -2 ngón cái tay phải, kích thước (01x01) cm; 01 vùng bầm tím kích thước (9x5) cm tại mặt trước vùng giữa cẳng chân trái, trên vùng này có các vết xây xát da trầy xước.

Ngày 16 tháng 4 năm 2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đô Lương đã yêu cầu định giá tài sản đối với cánh cửa gỗ mà Trần Văn M làm hư hỏng. Tại bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản huyện Đô Lương ngày 17 tháng 04 năm 2019 kết luận: 01 (một) cánh cửa làm bằng gỗ dổi kích thước: Cao 2,4 m, rộng 65 cm, dày 5 cm, đã qua sử dụng có mức giá: 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số 55/CT - VKS ngày 22/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Đặng Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Đặng Văn H từ 27 tháng đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 54 tháng đến 05 năm.

- Dân sự: Miễn xét

- Vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) thanh sắt màu trắng, dài 28 cm, hình tròn, một đầu có gấp khúc; Trên thanh sắt có gắn chiếc khung sắt dài 10 cm, rộng 3 cm, cách điểm cuối 15 cm, cách đầu 13 cm.

Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt. Người bị hại giữ nguyên quan điểm không có yêu cầu gì về dân sự với bị cáo do đã thỏa thuận giải quyết xong, đề nghị HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 26 tháng 01 năm 2019, tại cổng nhà Đặng Văn H thuộc xóm 8, xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An, do có mâu thuẫn từ trước, khi bị ông Trần Văn N tấn công, Đặng Văn Hđã có hành vi dùng chốt cổng bằng kim loại đâm nhiều phát vào vùng mặt của ông Trần Văn N gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 21 % (Hai mươi mốt phần trăm).

Hành vi dùng chốt cổng bằng kim loại đâm nhiều phát vào vùng mặt của ông Trần Văn N của bị cáo Đặng Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Hậu quả đã làm ông Trần Văn N bị tổn hại sức khỏe là 21% (Hai mươi mốt phần trăm) nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo về tội gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm sức khỏe, tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Chỉ vì nóng giận, thiếu kiềm chế từ việc bị ông Niên dùng tay đánh, cắn vào chân, bị cáo đã dùng chốt cổng bằng kim loại đâm nhiều phát vào vùng mặt của ông Trần Văn N. Vì vậy, việc điều tra, truy tố và đưa bị cáo ra xét xử kịp thời là hết sức cần thiết có tác dụng giáo dục và ngăn ngừa chung đối với tình trạng giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, cố ý gây thương tích cho người khác trên địa bàn. Tuy nhiên trong vụ án này nguyên nhân chính, trực tiếp dẫn đến hành vi gây thương tích của bị cáo đối với người bị hại xuất phát từ hành vi gây gổ và tấn công bị cáo trước của người bị hại.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào và có 03 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi gây ra thương tích cho người bị hại bị cáo đã tự nguyện bồi thường dân sự cho người bị hại, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Đánh giá toàn diện vụ án, căn cứ vào nguyên tắc xử lý người phạm tội quy định tại d khoản 1 Điều 3 BLHS và mục đích của hình phạt cần cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật khi lượng hình; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo tốt, có địa chỉ cư trú rõ ràng, nguyên nhân chính xảy ra sự việc do người bị hại có lỗi. Vì vậy chưa cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ răn đe và giáo dục thành công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt từ 27 tháng đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 54 tháng đến 05 năm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Đối với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của anh Trần Văn M do tài sản bị hư hỏng dưới 2.000.000 đồng và không thuộc một trong những trường hợp quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 178 BLHS nên Công an huyện Đô Lương đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng về hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản là đúng quy định của pháp luật.

- Về dân sự: Bị cáo và người bị hại đã thỏa thuận giải quyết xong; bị cáo không có yêu cầu gì về dân sự đối với anh Trần Văn M nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

- Về xử lý vật chứng: 01 (một) thanh sắt màu trắng, dài 28 cm, hình tròn, một đầu có gấp khúc; Trên thanh sắt có gắn chiếc khung sắt dài 10 cm, rộng 3 cm, cách điểm cuối 15 cm, cách đầu 13 cm bị cáo dùng để gây thương tích cho ông N không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

- Về án phí: Bị cáo Đặng Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 106, 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”

2. Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 26/6/2019).

Giao bị cáo Đặng Văn H cho UBND xã Lam Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về dân sự: Miễn xét

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) thanh sắt màu trắng, dài 28 cm, hình tròn, một đầu có gấp khúc; Trên thanh sắt có gắn chiếc khung sắt dài 10 cm, rộng 3 cm, cách điểm cuối 15 cm, cách đầu 13 cm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 05 năm 2019.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ