vanban.org

Bản án 53/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định Tuyên án 17/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt Bùi Xuân T 27 tháng tù.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân T Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt Bùi Xuân T 27 tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2019/HS -ST
Ngày:17- 9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông: Nguyễn Minh Đức

Ông: Phạm Kim An

- Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Văn Tùng–Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Xuân Trường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường tham gia phiên toà: ông Ngô Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày17 tháng 9 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2019/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Bùi Xuân T, sinh ngày 02/10/1977, nơi cư trú: xóm M, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt nam. Trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Bùi Đình C sinh năm 1941; con bà Bùi Thị T sinh năm 1943(đã chết). Tiền án: Ngày 15/3/2018 bị TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt 1 năm 3 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy . Tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 26/5/2010 bị áp dụng biện pháp đưa vào trung tâm chữa bệnh- Giáo dục – Lao động xã hội thành phố Thái Bình 12 tháng theo quyết định của Chủ tịch UBND thành phố Thái Bình. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2019 đến 23/6/2019 chuyển tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi liên quan: * Ông Bùi Đình C, sinh năm 1941 Trú tại: xóm M, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Người làm chứng: * Anh Bùi Quang Đ, sinh năm 1969 Trú tại: xóm M, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. * Nguyễn Xuân B - sinh năm 1959 Nơi cư trú: xóm Đ, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.

(ông C, anh B, anh Đ vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ ngày 17/6/2019 Bùi Xuân T điều khiển xe mô tô BKS: 29Z3-3634 đi từ nhà ở thôn M, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình đến khu vực dốc H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định tìm mua Heroine dùng cho bản thân. Tại đây qua dò hỏi T mua của người đàn ông không biết tên 200.000 đồng được 2 gói heroine. Trên đường về nhà qua xóm Đ, xã X khoảng 12 giờ cùng ngày thì tổ công tác của Công an huyện Xuân Trường kiểm tra hành chính. T tự giác giao nộp 02 gói heroine và khai đó là heroine vừa mua. Tổ công tác lập biên bản niêm phong ký hiệu M và thu giữ xe mô tô của bị cáo.

Theo bản kết luận giám định số 610/GĐKTHS ngày 18/6/2019 của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 gói nhỏ bằng giấy báo được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại chất heroine. Khối lượng mẫu M: 0,177 gam.

Cáo trạng số 46/CT-VKS ngày 22/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định truy tố Bùi Xuân T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS. Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị tuyên bố Bùi Xuân T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Xuân T từ 24 tháng đến 27 tháng tù. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu cho tiêu hủy số ma túy đã thu giữ. Trả lại chiếc xe mô tô cho ông Bùi Đình C.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi liên quan không ai có ý kiến gì thêm đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức rõ sai phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 15 ngày 17/6/2019 của tổ công tác Công an huyện Xuân Trường. Kết luận giám định số 610/GĐKTHS ngày 18/6/2019của Phòng KTHS Công an tỉnh Nam Định. Lời khai của người làm chứng Nguyễn Xuân B. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày17/6/2019 tại xóm Đ, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định bị cáo Bùi Xuân T đã có hành vi tàng trữ 02 gói heroine khối lượng 0,177 gam. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại tới quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng đến trật tự công cộng, chính sách phòng, chống tệ nạn ma túy mà Đảng và Nhà nước, nhân dân đang thực hiện quyết liệt cho nên cần nghiêm khắc phê phán và trừng trị thích đáng

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Năm 2018 bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo bị coi là tái phạm. Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy trước đây bị cáo đã được đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, bị cáo đã bị phạt tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không chịu cải tạo sửa chữa, cần xử phạt tù với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo mình thành công dân có ích cho xã hội.

. Tang vật của vụ án:. Tịch thu cho tiêu hủy số heroine đã thu giữ được hoàn trả sau giám định. Chiếc xe máy bị cáo mượn của ông C là bố đẻ bị cáo, ông C không biết bị cáo dùng đi mua ma túy nên không cần tịch thu sẽ trả lại cho ông C. Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và ông C có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: -Tuyên bố Bùi Xuân T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt Bùi Xuân T 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/6/2019.

2. Căn cứ điểm c khoản 1; khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu cho tiêu hủy số heroine trong phong bì hoàn trả mẫu vật; trả lại ông Bùi Đình C chiếc xe mô tô BKS: 29Z3-3634 có đặc điểm như biên bản bàn giao vật chứng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Trường.

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Bùi Đình C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ