vanban.org

Bản án 53/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 11/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Thái S phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Mai Thái S 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 02 năm 2019. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Thái S phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Thái S phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẮC TÂN UYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 53/2019/HS-ST
Ngày: 11-11-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Phi Anh Toàn;

2. Ông Bồ Quốc Khánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Sơn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Anh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Mai Thái S, sinh năm 1985 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Ấp 1, xã T, huyện U, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Khu phố 1, thị trấn T, huyện U, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Cạo mủ cao su; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Mai Xuân M, sinh năm 1959 và bà Mạch Thị L, sinh năm 1957; bị cáo có vợ tên Trần Thị Thu T, sinh năm 1985; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2017; có 03 em, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt từ ngày 26/02/2019 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Huỳnh Công B, sinh năm 1984; địa chỉ: 5.09 Lô A chung cư H, khu phố 5, phường C, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Huỳnh Chí T, sinh năm 1993; Có mặt.

2. Điều Ngọc A, sinh năm 1998; Vắng mặt.

3. Phạm Xuân H, sinh năm 2000; Vắng mặt.

4. Nguyễn Thị Thanh V, sinh năm 1998; Có mặt.

5. Võ Quang T, sinh năm 1979; Vắng mặt.

6. Trần Tấn P, sinh năm 1996; Vắng mặt.

7. Nguyễn Lâm B, sinh năm 2001; Vắng mặt.

8. Đinh Tấn P, sinh năm 1991; Vắng mặt.

9. Đỗ Vũ L, sinh năm 1998; Vắng mặt.

10. Nguyễn Trọng P, sinh năm 2003; Vắng mặt.

11. Lê Văn S, sinh năm 1995; Vắng mặt.

12. Phạm Văn N, sinh năm 2002; Vắng mặt.

13. Lê Văn D, sinh năm 1987; Có mặt.

14. Lê Văn Đ, sinh năm 1987; Có mặt.

15. Nguyễn Việt T, sinh năm 1992; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/02/2019 (Mùng 5 Tết nguyên đán) bị cáo Mai Thái S điều khiển xe mô tô biển số 61E1-173.48 từ thị trấn T, huyện B đến khu dân cư Vạn Phúc thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy. Bị cáo gặp người đàn ông khoảng 37-38 tuổi (không rõ nhân thân lai lịch) đi xe Wave màu xanh (không rõ biển số), bị cáo mua 01 túi nylon chứa chất tinh thể màu trắng được quấn băng keo màu đen bên ngoài với số tiền 2.100.000 đồng. Sau đó, bị cáo bỏ túi nylon vào người, điều khiển xe mô tô về lô cao su phía sau Nông trường Cao su Nhà Nai thuộc khu phố 1, thị trấn T chia thành 13 túi nhỏ, hàn kín, bỏ vào hộp nhựa hình trụ màu trắng, có nắp đậy màu xanh, cất trong túi áo khoác. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 26/02/2019, bị cáo điều khiển xe mô tô đi từ thị trấn T đến khu vực ấp T, xã Đ, huyện B thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện ma túy nên lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ trên người bị cáo gồm: 13 túi nylon được hàn kín bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng được đựng trong hộp nhựa màu trắng có nắp đậy màu xanh; 01 hộp nhựa màu trắng có nắp đậy màu xanh; 01 ống thủy tinh được uốn cong một đầu được thổi phồng to; số tiền 410.000 đồng; 01 cái áo khoác màu xám bị cáo mặc trên người; 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đen có số thuê bao 0374.005.522 và 0777.085.181; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng vàng có số thuê bao 0363.287.107 và 01 xe mô tô biển số 61E1-173.48 hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen.

Tiến hành khám xét chỗ ở của bị cáo tại thị trấn T, huyện B thu giữ những vật chứng sau: 01 túi nylon một đầu hở, một đầu kín; 10 miếng nylon; 03 đoạn ống hút nhựa; 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 10cm; 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 5cm; 01 cây kéo bấm bằng kim loại đã rỉ sét dài khoảng 5cm; 01 ống thủy tinh bị vỡ một đầu dài khoảng 3cm; 01 giỏ nhựa màu xanh; 01 bình ga mini màu vàng có chữ TELOX; 01 đồ khò màu xanh; 03 gói giấy báo bên trong có 08 ống thủy tinh; 01 gói giấy báo bên trong có 07 ống thủy tinh; 01 dao tự chế bằng kim loại màu đen dài 84cm; 01 giấy chứng minh nhân dân số 280879072 tên Mai Thái S; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên Mai Thái S, số khung BY608807, số máy 5C64-608813, hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 61E1-173.48; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên Lê Văn S, số khung 13BLWJ605769, số máy F125ID605765, nhãn hiệu Suzuki Satria, màu trắng đỏ đen, biển số 59S1-793.62 và 01 xe mô tô biển số 59S1-793.62, số khung 13BLWJ605769, số máy F125ID605765, nhãn hiệu Suzuki Satria, màu trắng đỏ đen.

Tại Bản kết luận giám định số 195/MT-PC09 ngày 05/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2.0188 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định: Bị cáo bán ma túy cho các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn các xã thuộc huyện Bắc Tân Uyên, cụ thể:

- Tại thị trấn T, huyện B: Đối tượng Huỳnh Chí T khai nhận mua ma túy của bị cáo S vào ngày 24/02/2019, hình thức gọi điện thoại cho S qua số điện thoại có số cuối 5522, với số tiền 200.000 đồng. Bị cáo S sử dụng xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen giao ma túy cho T tại đầu đường Tân Thành 41 thuộc khu phố 5, thị trấn Tân Thành. Ngoài ra Tâm còn khai nhận hùn tiền với Lê Văn D và Lê Văn Đ mua ma túy của bị cáo S ba lần.

- Tại xã T, huyện B: Đối tượng Điều Ngọc A khai nhận mua ma túy của người tên S nhà ở thị trấn T đối diện quán cà phê Thảo Nguyên 04 lần, hình thức mua A liên hệ với S qua số điện thoại 0374.005.522, sau khi S đồng ý A đến nhà S tại thị trấn T để trực tiếp lấy ma túy. Đối tượng Phạm Xuân H khai từ tháng 11/2018 đã mua ma túy của S, đặc điểm đi xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen nhà ở thị trấn T, huyện B đối diện quán cà phê Thảo Nguyên. Đối tượng Nguyễn Thị Thanh V khai từng sử dụng với N và biết được N mua ma túy từ S. Đối tượng Võ Quang T khai vào cuối năm 2018 đã liên lạc với người tên S qua số điện thoại 0374.005.522 để mua ma túy 4-5 lần. Các lần giao ma túy S đi xe mô tô loại Sirius màu đỏ hoặc xe Suzuki Sport màu đen xám đến ngã ba Tử Thần (khu vực giáp ranh xã T và xã Đ) để giao ma túy.

- Tại xã H, huyện Bắc Tân Uyên: Đối tượng Trần Tấn P khai vào đầu năm 2018, mua ma túy của người tên S nhà ở thị trấn T 03 lần. Đối tượng Nguyễn Lâm B khai nhận vào ngày 25/02/2019 gọi điện thoại cho người bán ma túy có số điện thoại 0374.005.522 mua 200.000 đồng ma túy, B đã mua được từ người này 06 lần. Đối tượng Đinh Tấn P khai từ đầu năm 2018 nhiều lần mua ma túy của người tên S nhà ở thị trấn T, huyện U, mỗi lần mua từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng.

- Tại xã Đ, huyện U: Đối tượng Đỗ Vũ L khai từ khoảng từ tháng 11 đến tháng 12/2018, L mua ma túy của S 04 lần, mỗi lần từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, hình thức mua ma túy L liên lạc với S qua số điện thoại có số cuối 5522 để hỏi mua và hẹn địa điểm. Đối tượng Nguyễn Trọng P khai khoảng tháng 6 -7 năm 2018 mua ma túy của S 04 lần, P được đối tượng tên T chở qua nhà S một lần nên biết nhà để đến mua ma túy, P cũng khai nhận thấy S bán ma túy cho T. Đối tượng Lê Văn S khai từ tháng 6/2018 mua ma túy của S 04 lần, mỗi lần 200.000 đồng đến 500.000 đồng, hình thức mua bán S liên lạc với S qua số điện thoại có số cuối 005522 để hỏi mua và hẹn địa điểm. Đối tượng Phạm Văn N khai biết S bán ma túy nhưng không trực tiếp đi mua. Đối tượng Lê Văn D khai từ tháng 5/2018 đã mua ma túy của S nhiều lần, mỗi lần từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Đối tượng Lê Văn Đ được Lê Văn D giới thiệu gặp S, bản thân đã đi giao ma túy của S cho T vào tháng 9/2018. Đối tượng Nguyễn Việt T khai vào tháng 11/2018 mua ma túy của S 02 lần, mỗi lần 300.000 đồng để sử dụng, hình thức T liên hệ với S qua số điện thoại có số cuối 005522 để hỏi mua và hẹn địa điểm giao ma túy. Địa điểm giao tại ngã ba đường vào hồ Đá Bàn, S đi xe mô tô loại Sirius màu đỏ đen.

Quá trình điều tra bản thân bị cáo chỉ thừa nhận bán ma túy một lần cho đối tượng Mai Minh T (M). Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Bắc Tân Uyên đã tiến hành cho các đối tượng mua ma túy gồm: Huỳnh Chí T, Điều Ngọc A, Trần Tấn P, Đỗ Vũ L, Nguyễn Trọng P, Nguyễn Việt T, Nguyễn Thị Thanh V và Phạm Xuân H nhận dạng đối với bị cáo Mai Thái S. Các đối tượng trên đều xác định bị cáo Mai Thái S chính là người bán ma túy cho các đối tượng trên.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên tiến hành cho các đối tượng Lê Văn D; Huỳnh Chí T; Trần Tấn P, Điều Ngọc A, Nguyễn Trọng P nhận dạng địa điểm nơi bị cáo bán ma túy và phương tiện của bị cáo sử dụng. Kết quả các đối tượng trên xác định đúng địa điểm chỗ ở là nơi bị cáo bán ma túy và phương tiện do bị cáo sử dụng xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius màu đỏ đen.

Tại cáo trạng số: 54/CT – VKS- BTU ngày 21 tháng 10 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Mai Thái S về Tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b, c, e Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, c, e khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Mai Thái S mức án từ 09 đến 10 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong số 195/PC09 có khối lượng 1.9689 gam loại Methamphetamine; 01 hộp nhựa màu trắng có nắp đậy màu xanh, 01 ống thủy tinh được uốn cong một đầu được thổi phồng to; 01 túi nylon một đầu hở, một đầu kín; 10 miếng nylon; 03 đoạn ống hút nhựa; 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 10cm; 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 5cm; 01 cây kéo bấm bằng kim loại đã rỉ sét dài khoảng 5cm; 01 ống thủy tinh bị vỡ một đầu dài khoảng 3cm; 01 giỏ nhựa màu xanh; 01 bình ga mini màu vàng có chữ TELOX; 01 đồ khò màu xanh; 03 gói giấy báo bên trong có 08 ống thủy tinh; 01 gói giấy báo bên trong có 07 ống thủy tinh; 01 dao tự chế bằng kim loại màu đen dài 84cm và 01 cái áo khoác màu xám; biển số xe 59S1 – 793.62; 01 giấy đăng ký xe mang tên Lê Văn S.

- Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đen và 01 xe mô tô biển số 61E1-173.48 cùng giấy đăng ký xe tên Mai Thái S; 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria, biển số 59S1 – 793.62.

- Bị cáo bán ma túy thời gian dài, cho nhiều đối tượng, bản thân bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, các đối tượng mua ma túy không xác định được cụ thể số tiền đã bỏ ra mua ma túy nên không xác định được số tiền bị cáo thu lợi bất chính.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi mua ma túy, mục đích để sử dụng và bán cho người có nhu cầu, bị cáo đã bán cho Mai Minh T một lần với số tiền 200.000 đồng. Ngoài ra bị cáo không thừa nhận hành vi bán ma túy cho các đối tượng khác trong vụ án.

Tại phiên tòa những người làm chứng Lê Văn D, Lê Văn Đ, Huỳnh Chí T và Nguyễn Thị Thanh V nhận dạng xác định bị cáo chính là người bán ma túy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Mai Thái S thừa nhận có hành vi mua ma túy, mục đích mua ma túy để sử dụng và bán lại cho các con nghiện nhưng bị cáo chỉ mới bán ma túy một lần cho đối tượng Mai Minh T vào ngày mùng 8 Tết âm lịch sau đó bị bắt, ngoài ra bị cáo không thừa nhận hành vi mua bán ma túy cho các đối tượng Huỳnh Chí T, Điều Ngọc A, Trần Tấn P, Đỗ Vũ L, Nguyễn Trọng P, Nguyễn Việt T và Phạm Xuân H.

Tuy nhiên, căn cứ biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản khám nhà, biên bản nhận dạng người, nhận dạng địa điểm và nhận dạng phương tiện, vật chứng thu giữ trong người bị cáo, vật chứng thu giữ tại nhà bị cáo, lời khai của những người làm chứng tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của chính bị cáo là phù hợp với nhau, đã có đủ cơ sở để xác định: Bị cáo Mai Thái S là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền mua ma túy sử dụng từ đầu năm 2018 đến khi bị bắt bị cáo đã nhiều lần mua ma túy của người đàn ông (Không rõ nhân thân lai lịch) sau đó chia nhỏ để bán cho các đối tượng nghiện ma túy trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên nhằm thu lợi. Bị cáo sử dụng chính nơi ở tại thị trấn Tân Thành làm nơi cất giữ và bán ma túy. Hình thức mua bán thông qua điện thoại có số 0374.005.522 để thỏa thuận giá và địa điểm giao ma túy. Sau đó, các đối tượng mua ma túy đến nhà bị cáo giao tiền và nhận ma túy hoặc bị cáo dùng xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 61E1-173.48 làm phương tiện đi giao ma túy. Bị cáo đã bán ma túy nhiều lần, cho nhiều đối tượng nghiện trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên, trong khoảng thời gian dài, trong đó có đối tượng Nguyễn Trọng P chưa đủ 16 tuổi.

Như vậy, hành vi của bị cáo Mai Thái S mua bán ma túy nhiều lần, cho nhiều người trong đó có người dưới 16 tuổi nhằm mục đích thu lợi đã đủ yếu tố cấu thành Tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, c, e khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 54/CT – VKS - BTU ngày 21 tháng 10 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, gây nguy hại rất lớn cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, nhận thức được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật. Bị cáo là người nghiện ma túy, biết rõ ma túy là nguyên nhân gây hiểm họa mắc nhiều căn bệnh nguy hiểm, là mầm mống của nhiều loại tội phạm khác nhưng vì tham lam, tư lợi bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ tư lợi. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhằm thể hiện sự khoan hồng của Pháp luật đối với người phạm tội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

Về nhân thân: Bị cáo là người có nghề nghiệp.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Mai Thái S, không rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Tân Uyên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với Lê Văn Đ khai giúp bị cáo giao đồ cho đối tượng Mai Minh T 02 lần nhưng không biết là ma túy. Quá trình điều tra xác định Mai Minh T đã bỏ đi khỏi địa phương, bản thân bị cáo không thừa nhận hành vi đưa ma túy cho Đ để giao cho T, nên không có sơ sở xử lý đối với Lê Văn Đ.

Đối với các đối tượng Điều Ngọc A, Phạm Xuân H, Nguyễn Thị Thanh V, Huỳnh Chí T, Võ Quang T, Trần Tấn P, Đinh Tấn P, Nguyễn Lâm B, Lê Văn D, Lê Văn Đ, Đỗ Vũ L, Lê Văn S, Nguyễn Việt T, Phạm Văn N và Nguyễn Trọng P là các đối tượng mua ma túy của bị cáo để sử dụng, hiện cơ quan công an đã lập hồ sơ theo dõi là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với số tiền 410.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng vàng có số thuê bao 0363.287.107 và 01 giấy chứng minh nhân dân số 280879072 tên Mai Thái S, xét đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên ngày 14/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên đã ra Quyết định trả lại những tài sản trên cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe mô tô biển số 59S1-793.62, số khung: 13BLWJ605769, số máy: F125ID605765, nhãn hiệu Suzuki Satria, màu trắng đỏ đen bị cáo khai là xe lắp ráp, mua lại của người khác (không rõ lai lịch) với giá 24.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định xe đã bị sửa số khung, số máy không tra cứu được chủ sở hữu. Riêng biển số 59S1-793.62 qua tra cứu là biển số xe Nouvo do ông Huỳnh Công B đứng tên, ông B xác định không bị mất biển số và đang sử dụng xe bình thường. Xét xe mô tô trên không rõ nguồn gốc, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Biển số xe 59S1-793.62 không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên Lê Văn S, số khung: 13BLWJ605769, số máy F125ID605765, nhãn hiệu Suzuki Satria, màu trắng đỏ đen, biển số 59S1-793.62. Qua tra cứu xác định Lê Văn S, cư trú tại 122/15 P, Phường 19, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình điều tra xác định không có địa chỉ trên. Xét giấy đăng ký xe trên không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đen, có số thuê bao 0374.005.522 và 0777.085.181; 01 xe mô tô biển số 61E1-173.48 hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen và 01 giấy đăng ký xe mô tô trên mang tên Mai Thái S. Xét đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 bì thư được niêm phong số 195/PC09 có khối lượng 1.9689 gam, loại Methamphetamine; 01 hộp nhựa màu trắng có nắp đậy màu xanh, 01 ống thủy tinh được uốn cong một đầu được thổi phồng to; 01 túi nylon một đầu hở, một đầu kín; 10 miếng nylon; 03 đoạn ống hút nhựa; 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 10cm; 01 cây kéo bằng kim loại dài khoảng 5cm; 01 cây kéo bấm bằng kim loại đã rỉ sét dài khoảng 5cm; 01 ống thủy tinh bị vỡ một đầu dài khoảng 3cm; 01 giỏ nhựa màu xanh; 01 bình ga mini màu vàng có chữ TELOX; 01 đồ khò màu xanh; 03 gói giấy báo bên trong có 08 ống thủy tinh; 01 gói giấy báo bên trong có 07 ống thủy tinh; 01 dao tự chế bằng kim loại màu đen dài 84cm và 01 cái áo khoác màu xám. Xét đây là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Xét bị cáo bán ma túy cho nhiều đối tượng nghiện trong khoảng thời gian dài, các đối tượng nghiện không nhớ rõ số tiền đã đưa cho bị cáo để mua ma túy, bản thân bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên không xác định được số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc mua bán ma túy. Vì vậy, không có cơ sở để buộc bị cáo nộp lại tiền thu lợi bất chính.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Mai Thái S phạm Tội mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm b, c, e khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Mai Thái S 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 02 năm 2019.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư được niêm phong số 195/PC09 có khối lượng 1.9689 gam, Methamphetamine; 01 hộp nhựa màu trắng có nắp đậy màu xanh, 01 ống thủy tinh được uốn cong một đầu được thổi phồng to; 01 túi nylon một đầu hở, một đầu kín; 10 miếng nylon; 03 đoạn ống hút nhựa; 01 cây kéo bằng kim loại dài 10cm; 01 cây kéo bằng kim loại dài 5cm; 01 cây kéo bấm bằng kim loại đã rỉ sét dài khoảng 5cm; 01 ống thủy tinh bị vỡ một đầu dài khoảng 3cm; 01 giỏ nhựa màu xanh; 01 bình ga mini màu vàng có chữ TELOX; 01 đồ khò màu xanh; 03 gói giấy báo bên trong mỗi gói có 08 ống thủy tinh; 01 gói giấy báo bên trong có 07 ống thủy tinh; 01 dao tự chế bằng kim loại màu đen dài 84cm; 01 cái áo khoác màu xám của Mai Thái S (đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô tên Lê Văn S và 01 biển số xe 59S1-793.62.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Mobell màu đen cùng sim số; 01 xe mô tô biển số 61E1-173.48, số khung: BY608807, số máy: 5C64-608813, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô trên mang tên Mai Thái S; 01 xe mô tô số khung: 13BLWJ605769, số máy: F125ID605765, nhãn hiệu Suzuki Satria, màu trắng đỏ đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/10/2019 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).

3. Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Mai Thái S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong ha ̣n 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ