- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Việt D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn Việt D 32 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/10/2017.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2018/HSST Ngày: 07/03/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Bà Đỗ Thị Diệu Thúy
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"
1. Ông Nguyễn Văn Vỹ"
2. Ông Nguyễn Văn Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bảo Nguyên - Thư ký Tòa án."
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Phương Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 03 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2018/HSST ngày 01 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/HSST-QĐ ngày 22/02/2018 đối với bị cáo:
NGUYỄN VIỆT D, sinh năm 1974 tại Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 16, phường Y, quận H, Hà Nội; Chỗ ở: Không có nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Con ông: Nguyễn Hữu T và bà Bùi Thị B; Có vợ là Nguyễn Thị H và 04 con; Tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 06/01/1997, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 08 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” (đã xóa án tích); Ngày 18/05/2000, Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân” (đã xóa án tích). Bị bắt quả tang ngày 18/10/2017, tạm giữ ngày 18/10/2017; tạm giam ngày 27/10/2017. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố Hà Nội - Có mặt tại phiên tòa.
Người liên quan: Ông Lê Thành H - sinh năm 1959 - Vắng mặt
Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện G, thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua" các" tài"liệu"có" trong" hồ" sơ" vụ" án"và"quá"trình" xét"hỏi" tranh" luận" tại" phiên"tòa,"nội"dung"vụ"án"được"tóm"tắt"như"sau:
Hồi 00 giờ 40 phút ngày 18/10/2017, tại khu vực đầu ngõ 261, phố Yên Duyên thuộc phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, Hà Nội, Công an quận Hoàng Mai phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Việt D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra, thu giữ trên người D 02 túi nilon chứa tinh thể màu trắng, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy; thu giữ trong xe ô tô của Nguyễn Việt D 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 túi nilon chứa chất dẻo màu đen. Qua giám định, tinh thể màu trắng trong 03 túi nilon thu giữ của Nguyễn Việt D là ma túy loại Methamphetamine, có tổng trọng lượng là 3,746gam; chất dẻo màu đen trong 01 túi nilon thu giữ trên xe ô tô của D có trọng lượng 4,067 gam, không tìm thấy thành phần chất ma túy. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Việt D khai nhận: Khoảng 6 giờ 00 ngày 17/10/2017, D đi đi bộ một mình đến khu vực cây xăng 71, đường Tam Trinh, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, D gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 03 túi ma túy “đá” với giá 1.200.000 đồng và xin thêm của người đó 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự tạo. Sau khi mua được ma túy, D đi bộ đến khu vực hồ điều hòa Yên Sở, lấy một ít ma túy ra sử dụng rồi bắt xe buýt đi chơi, đến chiều cùng ngày, D tiếp tục sử dụng ma túy trong túi ma túy đang dùng giở. Đến khoảng 22 giờ 00 cùng ngày, D lấy xe ô tô nhãn hiệu Daewoo BKS 30E-032.48 trên đường Tam Trinh (xe thuộc sở hữu của ông Lê Thành H, sinh năm 1959, trú tại: Thôn C, xã C, huyện G, Hà Nội, nhờ D đem đi sửa giúp), cất 01 túi ma túy đang dùng giở vào xe, rồi đi đến nhà Hoàng Việt A (là bạn xã hội của D), rủ A đi chợ đêm. Sau khi gặp nhau, D cho Hoàng Việt A sử dụng ma túy cùng, sau đó cả hai đi chơi rồi chở Hoàng Việt A về ngõ 261 phố Yên Duyên, phường Yên Sở, quận Hoàng Mai, Hà Nội, để Hoàng Việt A ở lại xe, còn D vào ngõ tìm vợ con, khi quay ra thì bị kiểm tra, bắt giữ. Đối với túi nilon chứa chất dẻo màu đen thu giữ trên xe ô tô của D, D khai không biết ai làm rơi trên xe từ khi nào.
Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKS-HM ngày 29 tháng 01 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Nguyễn Việt D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 194, điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 nay là điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội, xử phạt: Nguyễn Việt D từ 32 đến 36 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong chứa 3,746 gam Methamphetamine và 4,076 gam chất dẻo màu đen không tìm thấy thành phần chất ma túy, 01 bộ tẩu hút tự tạo có dính Methamphetamine; Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Nokia và số tiền 4.960.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Việt D giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trờ về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên"cơ"sở"nội"dung"vụ"án,"căn"cứ"vào"các"tài"liệu"trong"hồ"sơ"vụ"án"đã"được" thẩm"tra,"xét"hỏi,"tranh"luận"tại"phiên"tòa,"Hội"đồng"xét"xử"nhận"thấy"như"sau:"
Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.
Ngày 18/10/2017, Nguyễn Việt D đã có hành vi cất giữ trái phép 3,746 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán lại cho người khác. Đối chiếu Pháp luật, Nguyễn Việt D đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Hành vi của bị cáo được thực hiện trước ngày Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có hiệu lực Pháp luật nhưng so sánh Khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 và Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thấy: mức hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nhẹ hơn so với khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Theo hướng có lợi cho bị cáo, thực hiện Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 của Quốc hội, cần áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo. Bị cáo tàng trữ 3,746 gam Methamphetamine, thuộc trường hợp quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Khi bắt giữ D, có Hoàng Việt A đi cùng, mặc dù được D cho sử dụng ma túy nhưng Hoàng Việt A không góp tiền mua ma túy cùng D, không biết việc D tàng trữ ma túy nên không có căn cứ xử lý Hoàng Việt A về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 18/10/2017, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Việt A về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho NguyễnViệt D, do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.
Ma túy là hiểm hoạ của xã hội: bởi nó không chỉ là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức và lối sống, mà còn làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo đã có 02 tiền án. Mặc dù các án tích đã được xóa nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được cải tạo, giáo dục nhưng không chịu sửa chữa, coi thường Pháp luật.
Để cải tạo, giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét tình tiết: Tại"cơ"quan"điều"tra"cũng"như"tại"phiên"tòa,"bị" cáo"thành"khẩn"khai"báo để giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền."
Về vật chứng: 01 bao niêm phong bên trong có 3,746gam Methamphetamine và 4,076 gam chất dẻo màu đen không tìm thấy thành phần chất ma túy thu giữ của Nguyễn Việt D là chất độc hại, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có dính chất ma túy Methamphetamine, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Ngoài ra, khi bắt giữ bị cáo, cơ quan Công an còn thu giữ của bị cáo 01 xe ô tô nhãn hiệu Daewoo BKS 30E-032.48, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và số tiền 4.960.000 đồng.
Đối với chiếc xe ô tô thu giữ của bị cáo, qua xác minh, xác định được chủ sở hữu là ông Lê Thành H, sinh năm 1959, trú tại: Thôn C, xã C, huyện G, Hà Nội. Ông H nhờ D đem xe đi sửa giúp. Xét thấy, đây là tài sản của người khác, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan điều tra đã trao trả ông H chiếc xe này.
Đối với 01 chiếc điện thoại di độngnhãn hiệu Nokia và số tiền 4.960.000 đồng cơ quan công an thu giữ của bị cáo, xét đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Vì"các"lẽ"trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999;
- Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử phạt: Nguyễn Việt D 32 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/10/2017.
Về vật chứng (Hiện" đang" lưu" giữ" tại" chi" cục" thi" hành" án" dân" sự" quận" Hoàng"Mai"theo"biên"bản"giao"nhận"vật"chứng"số"109/2018"ngày"01/02/2018"và" giấy"nộp"tiền"vào"tài"khoản"ngày"21/12/2018"):
- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong có 3,746 gam Methamphetamine , 4,076 gam chất dẻo màu đen không tìm thấy thành phần chất ma túy, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có dính chất ma túy Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Việt D
- Trả lại bị cáo 01 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng có số Imei: 353181038860095 và số tiền 4.960.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận : - Người tham gia tố tụng, - VKSND Q. Hoàng Mai, - Chi cục thi hành án dân sự Q. Hoàng Mai, - Công an quận Hoàng Mai, - TAND thành phố Hà Nội - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Diệu Thúy"" |