- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn D - lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bùi Văn D phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 53/2018/HSST Ngày: 07/12/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƢƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thành Niên
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thu
Bà Hoàng Thị Tám
Thƣ ký phiên tòa: Ông Vũ Văn Trung – Thẩm tra viên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lƣơng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Châm – Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 12 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2018/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số:54/ 2018/ HSST ngày 26 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:
Bùi Văn D - Sinh ngày 16/02/1999 Nơi cƣ trú: Xóm Yên L, xã p, huyện L, tỉnh Hòa Bình Dân tộc: Mƣờng; Tôn giáo: Không, trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Văn Q (đã chết) Con bà: Quách Thị H; Vợ, con: Chƣa; gia đình có 03 anh, chị em, bị cáo là con thứ ba.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/07/2018 đến 16/7/2018. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cƣ trú, có mặt tại phiên tòa. Người bị hại: Đinh Công T, sinh năm 14/10/2000(có đơn xin xét xử vắng mặt) Người đại diện bị hại: Bà Bùi Thị K (có đơn xin xét xử vắng mặt) Cùng trú tại: Xóm Suối C, xã p, huyện L, tỉnh Hòa Bình Bị đơn dân sự: Bạch Xuân H, sinh 15/04/2001(có mặt)
- Đại diện bị đơn dân sự: Ông Bạch Xuân H1 (có mặt) Cùng trú tại: Hợp Th, xã p, huyện L, Hòa Bình Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Xuân Tr, sinh 1978 (vắng mặt) Trú tại: Gò M, Hợp T, Mỹ Đ, Hà Nội Bà: Bùi Thị K (có đơn xin xét xử vắng mặt) Trú tại: Xóm Suối C, xã p, huyện L, tỉnh Hòa Bình Bà: Quách Thị H (có mặt) Tú tại: Xóm Yên L, xã p, huyện L, tỉnh Hòa Bình
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa,nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 16/06/2018, khi Bùi Văn D đang chơi điện tử tại quán internet Đại Nghĩa, thuộc thôn Hợp Th, xã p, huyện L, tỉnh Hòa Bình thì có Bạch Xuân H là bạn của D đến nhờ D đƣa về nhà, D đồng ý, nhƣng do không có phƣơng tiện nên bị cáo hỏi mƣợn chiếc xe mô tô của anh Đinh Công T, sau khi D hỏi mƣợn xe, anh T đồng ý nên đƣa chìa khóa xe mô tô BKS 28G1- 155.19 cho Bùi Văn D, có xe Bùi Văn D điều khiển chở Bạch Xuân H về nhà, trong lúc cả hai đang đi trên đƣờng thì Bạch Xuân H rủ D đi mua ma túy để sử dụng, D đồng ý sau đó chở H đến gặp anh Nguyễn Văn Tr1, sinh năm 1984, trú tại: La Đ, Hợp T, Mỹ Đ, Hà Nội để mua ma túy, Tại đây H bỏ ra 200.000đ để mua ma túy của anh Tr1, trên đƣờng quay về, khi đi đến đoạn đƣờng vắng, D và H dừng lại để sử dụng ma túy, sau khi sử dụng ma túy xong, D nẩy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe môt tô của anh T nên nói với H “ hay là mang xe T đi cầm cố” khi nghe D nói nhƣ vậy H đồng ý, sau đó cả hai mang xe mô tô của anh T đến quán karaoke Hƣơng Đồng, thuộc La Đ, Hợp T, Mỹ Đ, Hà Nội gặp anh Nguyễn Văn Tr1 là ngƣời trƣớc đó bán ma túy cho các bị cáo để đặt vấn đề cầm cố xe mô tô, anh Tr1 gọi điện thoại cho anh Trần Xuân Tr, sinh năm 1987, trú tại: Gò M, Hợp T, Mỹ Đ, Hà Nội đến, tại đây D, H đặt vấn đề và cầm cố chiếc xe mô tô trên cho anh Tr với giá 6.000.000đ, nhƣng anh Tr chỉ đƣa cho D, H số tiền 5.100.000đ, còn 900.000đ Tr giữ lại để trừ vào tiền lãi, có tiền H chia cho D 1.700.000đ, H giữ lại 3.400.000đ, số tiền trên D, H ăn tiêu cá nhân hết. Đến ngày 10/7/2018, Bùi Văn D và Bạch Xuân H đến cơ quan Công an huyện L đầu thú.
Ngày 17/7/2018, chị Quách Thị H là mẹ đẻ Bùi Văn D đã chuộc lại chiếc xe trên với giá 6.000.000đ để trả cho chủ sở hữu.
Theo bản kết luận định giá tài sản ngày 18/7/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lƣơng Sơn kết luận “Chiếc xe mô tô BKS 28G1-155.19 nhãn hiệu honda RSX đã qua sử dụng có giá trị: 16.000.000đ”
Trong giai đoạn truy tố chờ xử lý, Bạch Xuân H bỏ trốn, do vậy VKS nhân dân huyện Lƣơng Sơn đã yêu cầu truy nã, đồng thời ra các Quyết định tạm đình chỉ vụ án, Quyết định tách vụ án hình sự, truy tố xét xử đối với Bùi Văn D trƣớc, đối với Bạch Xuân H khi nào bắt đƣợc sẽ xử lý sau.
Bản cáo trạng số: 52/CT- VKSLS ngày 15/11/2018, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lƣơng Sơn truy tố: Bùi Văn D về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 BLHS.
Kết thúc quá trình tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nhƣ bản cáo trạng đã đề cập, về hình phạt đề nghị HĐXX áp dụng: khoản 1 Điều 175, điểm i,s,b khoản 1, 2 Điều 51, Điều 48, 65 BLHS xử phạt Bùi Văn D mức hình phạt từ 9 tháng đến 12 tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo và áp dụng thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
Về Trách nhiệm dân sự: Chiếc xe môt tô BKS 28G1- 155.19 đã đƣợc thu hồi trả chủ sở hữu, nay ngƣời bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên không đề cập.
Đối với số tiền 6.000.000đ, chị Quách Thị H đã bỏ ra để chuộc xe môt tô trả cho bị hại, các bị cáo phải có trách nhiệm hoàn trả cho chị H, tại phiên tòa hôm nay chị H không yêu cầu Bùi Văn D trả cho chị, và yêu cầu Bạch Xuân H trả cho chị số tiền 3.000.000đ, yêu cầu của chị H là có căn cứ, nên đề nghị HĐXX buộc H phải trả số tiền trên cho chị H. Đối với số tiền 900.000đ anh Trần Xuân Tr thu tiền lãi của D và H, tại phiên tòa Bùi Văn D, Bạch Xuân H và chị Quách Thị H không yêu cầu anh Tr hoàn trả số tiền trên, nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Đề nghị tuyên buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bị cáo trình bày lời bào chữa, thừa nhận hành vi phạm tội nhƣ cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về tố tụng: Các hành vi, Quyết định tố tụng của ngƣời tiến hành tố tụng và của cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đƣợc thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, Quá trình điều tra, truy tố cũng nhƣ tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và ngƣời tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về các hành vi và Quyết định tố tụng đó. Do vậy các hành vi và Quyết định tố tụng trên là hợp pháp.
Về căn cứ buộc tội, gỡ tội, tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, Bùi Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai phù hợp lời khai ngƣời bị hại, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập, lời khai thể hiện: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 16/06/ 2018, trong lúc bị cáo chơi điện tử tại quán internet Đại Nghĩa thuộc thôn Hợp Th, xã p, huyện L thì Bạch Xuân H đến nhờ bị cáo đƣa về nhà, do không có phƣơng tiện nên bị cáo mƣợn chiếc xe môt tô BKS 28G1- 155.19 của anh Đinh Công T để đƣa H về, sau đó bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe của anh T nên bị cáo rủ H cùng thực Hiện, H đồng ý, sau đó cả hai đem xe môt tô cầm cố cho anh Trần Xuân Tr lấy số tiền 6.000.000đ, anh Tr trừ tiền lãi 900.000đ, còn lại 5.100.000đ, H chia cho bị cáo 1.700.000đ, H hƣởng 3.400.000đ, số tiền trên cả hai ăn tiêu cá nhân hết. Hành vi các bị cáo gây ra thỏa mãn cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 175 BLHS. Do đó HĐXX có đủ căn cứ kết luận Bùi Văn D phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS.
Việc bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lƣơng Sơn truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.
Xét Bùi Văn D là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức đƣợc hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, xong vì mục đích cá nhân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện dẫn đến phạm tội. Hành vi bị cáo gây ra xâm hại đến quyền sở hữu tài sản ngƣời khác đƣợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, góp phần làm gia tăng tội phạm trên địa bàn huyện Lƣơng Sơn, do vậy cần xử lý nghiêm minh, có mức hình phạt tƣơng xứng tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội bị cáo gây ra mới đảm bảo tác dụng giáo dục, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra cho xã hội, nhân thân bị cáo thấy tội phạm do bị cáo gây ra thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội lần đầu, sau phạm tội đã ra đầu thú, quá trình điều tra, truy tố, xét xử có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt chƣa có tiền án, tiền sự, đã khắc phục toàn bộ hậu quả gây ra, bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng, do vậy HĐXX thấy chƣa cần thiết áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt từ có điều kiện, giao bị cáo cho chính quyền địa phƣơng giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.
Xét vị trí, vai trò của các bị cáo trong vụ án này thấy, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, Bùi Văn D là ngƣời khởi sƣớng, chủ động rủ rê đồng phạm khác thực hiện tội phạm, đồng thời cũng là ngƣời thực hành, hƣởng lợi ít hơn Bạch Xuân H, H là ngƣời tham gia tội phạm với vai trò ngƣời thực hành tích cực, đƣợc hƣởng lợi nhiều hơn, do đó D, H có vai trò ngang bằng nhau nên chịu trách nhiệm hình sự nhƣ nhau.
Đối với bạch Xuân H, do trong giai đoạn truy tố đã bỏ trốn, VKS đã có quyết định tách vụ án, nên HĐXX không đề cập trong vụ án này và đƣợc xem xét xử lý bằng vụ án khác.
Xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình bị cáo, thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền cũng đảm bảo tác dụng giáo dục.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong vụ án này bị cáo có tình tiết tăng nặng đó là rủ rê ngƣời chƣa đủ 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm 0 khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau phạm tội bị cáo ra đầu thú, có thái độ khai báo thành khẩn, tích cực khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu, thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trong, gia đình có hoàn cảnh khó khăn bố mất sớm, điều kiện giáo dục không đầy đủ quy định tại điểm i,s,b khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Đối với đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX đã xem xét theo quy định pháp luật trong quá trình nghị án.
Về trách nhiệm dân sự: Chiếc xe môt tô do các bị cáo chiếm đoạt đã đƣợc thu hồi trả chủ sở hữu, nay bị hại không có yêu cầu gì thêm, tòa không đề cập. Đối với số tiền 6.000.000đ chị H bỏ ra chuộc xe môt tô, Bùi Văn D và Bạch Xuân H phải có trách nhiệm liên đới hoàn trả cho chị H, Tại phiên tòa hôm nay, do D là con trai chị nên chị H không yêu D phải trả, và yêu cầu Bạch Xuân H phải trả cho chị một nửa số tiên trên bằng 3.000.000đ, yêu cầu của chị H là có căn cứ, nên cần buộc Bạch Xuân H hoàn trả cho chị H là phù hợp.
Đối với số tiền 900.000đ, anh Tr trừ tiền lãi của D và H khi cầm cố tài sản, tại phiên tòa Bùi Văn D, Bạch Xuân H và chị Quách Thị H không yêu cầu anh Tr hoàn trả số tiền trên, nên không đề cập giải quyết.
Vế án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Từ các nhận định trên
QUYẾT ĐỊNH
1.Tuyên bố: Bùi Văn D phạm tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 175 BLHS, Điều 48, 65, điểm i,s,b khoản1, 2 Điều 51 điểm 0 khoản 1 Điều 52 BLHS.
Xử phạt: Bùi Văn D 12 tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Long Sơn, huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp có thay đổi nơi cƣ trú thì đƣợc thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
Trƣờng hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc ngƣời đó phải chấp hành hình phạt của bản án trƣớc và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc Bạch Xuân H và ngƣời đại diện hợp pháp phải hoàn trả cho chị Quách Thị H số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng)
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, bên đƣợc bồi thƣờng có đơn yêu cầu mà bị cáo không bồi thƣờng số tiền trên thì còn phải chịu lãi suất nợ quá hạn theo quy định tại khoản 2 điều 468 BLDS, tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trêng hîp b¶n ¸n, quyÕt ®Þnh ®îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù th× ngêi ®îc thi hµnh ¸n d©n sù, ngêi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tho¶ thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ cìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6,7 vµ 9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù; Thêi hiÖu thi hµnh ¸n ®îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i ®iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.
4.Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội về án phí, lệ phí tòa án. Buộc Bùi Văn D phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Bạch Xuân H phải nộp 300.000đ án phí dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo Bùi Văn D, bị đơn dân sự Bạch Xuân H và ngƣời đại diện hợp pháp, chị Quách Thị H đƣợc quyền kháng cáo. Bị hại Đinh Công T và ngƣời đại diện hợp pháp, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết theo quy định pháp luật.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tinh HB - VKSND tỉnh HB - VKSND huyện Lương Sơn - CQĐT, CQTHAHS huyện Lương Sơn - Trại tạm giam - THADS huyện Lương Sơn - Bị cáo, BH, người liên quan - Công thông tin điện tử TAND - Luu HSVA | (Đã ký) Bùi Thành Niên |