- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Tiến - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 12 ( mười hai ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2018.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53 /2018/HS-ST Ngày 20-9-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Kiêm;
Ông Bùi Văn Bình.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Én - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2018, tại Nhà văn hóa trung tâm huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2018/HSST- QĐ ngày 06 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh năm 1998 tại xã Hải An; nơi cư trú: Xóm 10, xã Hải A, huyện H, tỉnh N; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T, sinh năm 1961 và bà Đoàn Thị H, sinh năm 1967; vợ là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1998 và 01 con mới sinh; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2018 đến ngày 18/7/2018 thì chuyển tạm giam cho đến nay. “ Có mặt”
- Người làm chứng:
1. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1961; nơi cư trú: Xóm 10, xã Hải A, huyện H, tỉnh N. “Có mặt”
2. Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1998; nơi cư trú: Xóm 10, xã Hải A, huyện H, tỉnh N. “Có mặt”
- Người chứng kiến:
1. Ông Vũ Viết L, sinh năm 1957; nơi cư trú: TDP Nguyễn Chẩm A, TT C, huyện H, tỉnh N. “Vắng mặt”
2. Anh Bùi Văn H, sinh năm 1992; nơi cư trú: TDP Cao An, TT C, huyện H, tỉnh N. “Vắng mặt”
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 12/7/2018, Phạm Văn T điều khiển xe mô tô BKS 18H1- 210.64 từ nhà ở của mình đến xã Hải Hòa, huyện Hải Hậu có việc riêng. Đến 12 giờ cùng ngày, trên đường về nhà Tiến có nhu cầu sử dụng ma túy nên đến khu vực ngã tư thị trấn C, Tiến gặp và mua của một nam thanh niên không quen biết 01 ống ma túy đá với giá 300.000 đồng; T bỏ ống nhựa chứa ma túy vào túi quần bên phải rồi điều khiển xe đi về. Khi đến khu vực Tổ dân phố số 4A thị trấn Cồn thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy PC47 Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang. T giữ trong túi quần bên phải Tiến đang mặc 1 đọan ống Nhựa màu xanh, dài khoảng 3cm được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng , Tiến khai nhận là ma túy đá vừa mua để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của Tiến 1 xe một tô nhãn hiệu Hon da Aiblale BKS 18H1- 21064; 1 điện thoại di động nhãn hiệu sam sung vỏ màu trắng đã cũ và số tiền 2000.000đ. Sau khi bắt giữ Tiến Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy PC47 Công an tỉnh Nam Định bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận giám định số 644/GĐKTHS ngày 13/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 đoạn ống hút nhựa màu xanh dài khoảng 3 cm hàn kín 2 đầu gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine. Khối lượng mẫu M là 0,364 gam.
Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 27/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định để xét xử đối với bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo thành khẩn khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung vụ án đã nêu trên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyê ̣n Hải Hâ ̣u giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi tàng trữ trái phép Methamphetamine khối lượng 0,364 gam để sử dụng cho bản thân là hành vi vi phạm pháp luật nên đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị tuyên phạt bị cáo Phạm Văn T từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn trả sau giám định.
Phần tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định; bằng lời khai của người làm chứng, người chứng kiến cùng các tài liệu khác đã được lưu trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 12 giờ ngày 12/7/2018 tại khu vực tổ dân phố 4A, TT C, huyện H, tỉnh N, tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy PC47 Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang Phạm Văn T đang cất giấu trái phép 01 ống nhựa màu xanh bên trong chứa Methamphetamine có khối lượng 0,364 gam để sử dụng.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý mà còn gây mất trật tự, trị an xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện, khối lượng bị cáo tàng trữ Methamphetamine mục đích để sử dụng là 0,364 gam nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015.
Các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo: Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, bị cáo không có tiền án, tiền sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn mới kết hôn, vợ bị cáo cũng mới sinh con trong thời gian bị cáo đang bị giam giữ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm minh đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng ...”. Xét bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn không có việc làm ổn định.
Đối với người thanh niên bán Methamphetamine cho Phạm Văn T vào ngày 12/7/2018 tại khu vực ngã tư thị trấn Cồn do Tiến không biết cụ thể họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Về xử lý vật chứng:
- Toàn bộ số Methamphetamine có trong phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 644/GĐKTHS ngày 13/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu, tiêu hủy.
- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 18H1-210.64 bị cáo mượn của ông Phạm Văn T (bố đẻ bị cáo), ông T không biết bị cáo sử dụng đi mua ma túy; số tiền 2.000.000đ của ông T, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung vỏ màu trắng đã cũ của chị Nguyễn Thị Thu H (vợ của bị cáo) không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả lại cho ông Tặng, chị Hương là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 12 ( mười hai ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2018.
2.Về xử lý vật chứng: Áp dụng diểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ Luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: Toàn bộ số Methamphetamine có trong phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 644/GĐKTHS ngày 12/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nam Định.
(Các vật chứng nêu trên được mô tả trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2018 giữa Công an huyện Hải Hậu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH13 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện + tỉnh; - Chi cục THADS huyện; - THA phạt tù; - CQ Điều tra CA huyện - Sở tư pháp; - Nhà tạm giữ CA huyện - VP Công an huyện; - UBND xã Hải An; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |