vanban.org

Bản án 53/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Anh T về việc ly hôn với ông Trần TT. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Anh T được ly hôn ông Trần TT. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con Thư - Toàn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 53/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 14-6-2018.
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Quang Xẹt;

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2018/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2018 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Anh T, sinh năm 1989; địa chỉ: Số nhà XY, Tổ C, khu phố KH, phường TPK, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Bị đơn: Ông Trần TT, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ C, khu phố KH, phường TPK, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; vắng mặt lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/10/2017, bản tự khai ngày 17/01/2018, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Võ Anh T trình bày:

Bà Võ Anh T và ông Trần TT quen biết và tự tìm hiểu nhau, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) TPK, thị xã Tân Uyên theo Giấy chứng nhận kết hôn số 132/2012, quyển số 02 ngày 30/10/2012.

Sau khi cưới, cuộc sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông TT không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, rượu chè, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, lâu dần làm cho cuộc sống hàng ngày rất căng thẳng, mệt mỏi, thường xuyên xảy ra tranh cãi, không có tiếng nói chung, dần dần mất tình cảm. Từ đầu năm 2017 cho đến nay bà T và ông TT đã ly thân, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm không còn, xung đột và mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể đoàn tụ chung sống với nhau được nữa, bà Võ Anh T yêu cầu được ly hôn với ông Trần TT.

Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Võ Phương N, sinh ngày 29/7/2013. Hiện nay cháu N đang sống cùng bà T, bà Võ Anh T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông Trần TT phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là ông Trần TT đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án, cũng không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên có ý kiến: Về tố tụng: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng, các đương sự không bị hạn chế các quyền khi tham gia tố tụng; bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng lần thứ 2 vắng mặt tại phiên tòa là tự từ bỏ quyền chứng minh, tranh tụng của mình, không mong muốn hàn gắn tình cảm gia đình nên đề nghị xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát cho rằng mâu thuẫn giữa bà T và ông TT là trầm trọng, không thể đoàn tụ chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung: Hiện tại cháu N đang sống cùng bà T, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N, do đó cần giao cháu N cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, bà T không yêu cầu ông TT cấp dưỡng nuôi con chung nên ghi nhận; về tài sản chung, nợ chung bà T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Võ Anh T khởi kiện ly hôn, tranh chấp về con chung với ông Trần TT, đây là tranh chấp quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông Trần TT là bị đơn hiện đang cư trú tại phường TPK, thị xã Tân Uyên nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Trần TT đã được tống đạt hợp lệ nhưng lần thứ 2 vắng mặt tại phiên tòa là tự từ bỏ quyền chứng minh, tranh tụng của mình. Do đó, căn cứ quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt ông TT.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Anh T và ông Trần TT quen biết và tự tìm hiểu nhau, năm 2012 tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn (nay là phường) TPK, thị xã Tân Uyên theo Giấy chứng nhận kết hôn số 132/2012, quyển số 02 ngày 30/10/2012, đây là hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẫn vợ chồng:

Theo trình bày của bà T, sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc tới năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do ông TT không lo làm ăn, thường xuyên cờ bạc, rượu chè, không chăm lo cho cuộc sống gia đình, lâu dần làm cho cuộc sống hàng ngày rất căng thẳng, mệt mỏi, thường xuyên xảy ra tranh cãi, không có tiếng nói chung, dần dần mất tình cảm. Từ đầu năm 2017 cho đến nay bà T và ông TT đã ly thân, mỗi người sống một nơi, không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai nấy sống.

Quá trình giải quyết vụ án, dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông TT không đến Tòa án, điều đó cho thấy ông TT không có mong muốn hàn gắn tình cảm với bà T. Về phía bà T trong quá trình tố tụng xác định không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với ông TT.

Như vậy, trình bày của bà Võ Anh T về mâu thuẫn vợ chồng là có căn cứ. Mục đích hôn nhân giữa bà T và ông TT nhằm tạo lên một gia đình hòa thuận, hạnh phúc, vợ chồng yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau nuôi dạy con và xây dựng kinh tế gia đình không đạt được, thực tế bà T và ông TT đã sống ly thân từ tháng 3/2017 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Võ Anh T và ông Trần TT là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, không thể đoàn tụ để chung sống được nữa, nên trình bày của bà T về tình trạng vợ chồng trầm trọng, không còn tình cảm và xin được ly hôn với ông TT là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

Về con chung:

Bà T và ông TT có sinh được 01 người con chung tên Trần Võ Phương N, sinh ngày 29/7/2013. Xét thấy, hiện tại cháu N đang sống cùng bà T, bà T có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Do vậy, yêu cầu được nuôi con của bà T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. bà T không yêu cầu ông TT cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

ông TT không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nên được chấp nhận.

Về án phí: Bà Võ Anh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; điểm b Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, các điều 68, 69, 70, 71, 72; 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Anh T về việc ly hôn với ông Trần TT.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Anh T được ly hôn ông Trần TT.

- Về con chung: Giao con chung tên Trần Võ Phương N, sinh ngày 29/7/2013 cho bà Võ Anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Võ Anh T về việc không yêu cầu ông Trần TT cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

2. Về án phí: Bà Võ Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2016/0013601 ngày 02/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ