- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đinh Thị N- Đặng Văn P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Chị Đinh Thị N
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 53/2018/HNGĐ - ST Ngày: 31/7/2018 V/v “ Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Châu Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Giáp.
Bà Đỗ Thị Hồng Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Kiều- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên tòa: Ông Phan Đăng Định- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án thụ lý số: 262/2018/TLST - HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2018 về việc "Ly hôn; tranh chấp nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2018/QĐST - HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018; quyết định hoãn phiên tòa số 42/2018/QĐST-DS ngày 29/6/2018 và quyết định hoãn phiên tòa số 42.a/2018/QĐST-DS ngày 23/7/2018 giữa các đương sự.
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị N, sinh năm 1978.
-Bị đơn: Anh Đặng Văn P, sinh năm 1975.
Cùng địa chỉ: thôn ĐB, ấp BC, xã BS, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
( Chị N, anh P có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/4/2018, biên bản hòa giải trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn chị Đinh Thị N trình bày:
Chị và anh Đặng Văn P tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau được Ủy ban nhân dân xã Bắc Sơn, huyện Thống Nhất cũ nay là huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 01, ngày 10/01/2001.
Nguyên nhân ly hôn là do vợ chồng chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn cãi vã với nhau, không có tiếng nói chung, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, chị và anh P đã nhiều lần hàn gắn với nhau nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Tình cảm dành vợ chồng không còn, hạnh phúc hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh P.
Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung là cháu Đặng Thị Thu T, sinh ngày 26/11/2001 và Đặng Thiên Huy B, sinh ngày 20/7/2003. Chị N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con. Tạm thời không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Khai không có.
- Tại bản tường trình ; biên bản hòa giải trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa ngày hôm nay bị đơn anh Đặng Văn P trình bày: Anh và chị N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, tại Ủy ban nhân dân xã Bắc Sơn, huyện Thống Nhất cũ nay là huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai vào năm 2001. Vợ chồng chung sống có 02 con chung là cháu Đặng Thị Thu T, sinh ngày 26/11/2001 và Đặng Thiên Huy B, sinh ngày 20/7/2003. Anh yêu cầu nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nơ chung không có.
Anh không đồng ý ly hôn với chị N vì anh mong muốn gia đình đoàn tụ, anh vẫn còn tình cảm yêu thương vợ con. Tại phiên tòa anh P trình bày do tính tình nóng nảy không kềm chế được nên anh cũng có đánh chị N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý đã giải quyết vụ án đúng và đầy đủ quy định tại các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết vụ án, Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự về xác định tư cách đương sự tham gia tố tụng. Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho VKS và cho đương sự đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị N vì tình trạng mâu thuẫn trong quá trình chung sống vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Đề nghị giao các con chung cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, tạm thời anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung chị N không yêu cầu nên không đề cập.
Nợ chung chị N khai không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn là chị Đinh Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Đặng Văn P. Anh P có hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại ấp BC, xã BS, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Do đó, đây là tranh chấp về ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 76, quyển số 01, ngày 10/01/2001 của Ủy ban nhân dân xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp và căn cứ theo lời trình của đương sự là tự nguyện kết hôn có thể xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Đinh Thị N và anh Đặng Văn P là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Xét cuộc sống chung vợ chồng giữa chị N và anh P không hạnh phúc, tại biên bản đối chất ngày 09/5/2018 chị N cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã với nhau gây ảnh hưởng đến các con, anh P còn bạo hành đánh đập chị lý do ghen tuông và về kinh tế, tiền bạc. Chị N đã nhiều lần nộp đơn ly hôn với anh P nhưng vẫn cho anh cơ hội nên đã rút đơn. Anh P cũng thừa nhận có đánh đập chị N vì do áp lực công việc và chị cũng có những hành động quá đáng ngoài xã hội nhưng anh không có chứng cứ.
Theo biên bản xác minh ngày 18/5/2018 thì đại diện địa phương cho biết việc mâu thuẫn gia đình của chị N và anh P địa phương không nắm rõ.
Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, không có sự quan tâm, chia sẻ, gắn bó lẫn nhau nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Đinh Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn P.
- Về con chung: Chị N và anh P đều yêu cầu được nuôi 02 con là cháu Đặng Thị Thu T, sinh ngày 26/11/2001 và Đặng Thiên Huy B, sinh ngày 20/7/2003, không ai yêu cầu cấp dưỡng xét thấy hiện nay các cháu đang sống với cả bố và mẹ, chị N và anh P đều có công việc và thu nhập ổn định, nhưng trong biên bản lấy ý kiến con chưa thành niên ngày 23/4/2018 các con cũng có nguyện vọng sống với mẹ, nên HĐXX xem xét giao 02 con chưa thành niên cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm thời anh P không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Đương sự khai không có nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Đinh Thị N phải chịu 300.000 đồng ba trăm ngàn đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị N đã nộp là 300.000 đồng ba trăm ngàn đồng , theo biên lai số 000397 ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227; Điều 147, Điều 235; Điều 266; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Chị Đinh Thị N
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị N được ly hôn với anh Đặng Văn P.
- Về con chung: Giao 02 con là cháu Đặng Thị Thu T, sinh ngày 26/11/2001 và Đặng Thiên Huy B, sinh ngày 20/7/2003 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.
Tạm thời anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Không ai được ngăn cản quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung của anh P.
Khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Đinh Thị N phải chịu 300.000 đồng ba trăm ngàn đồng án phí sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị N đã nộp là 300.000 đồng ba trăm ngàn đồng , theo biên lai số 000397 ngày 17 tháng 4 năm 2018 của Cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, chị N đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị N và anh Đặng Văn P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ./.
| Nơi nhận: - VKSND H. Trảng Bom; - THADS H. Trảng Bom; - Các đương sự để thi hành ; - Lưu hồ sơ. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Châu Ngọc Hà |