vanban.org

Bản án 53/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/06/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cƣ́ các Điều 471, 474, 476, 478 Bộ luật Dân sự 2005;

Buộc bà Nguyễn Thị Bích L và ông Nguyễn Văn T phải thanh toán cho anh Nguyễn Huỳnh Quốc K và anh Trƣơng Phúc T số tiền 207.100.000 đồng (hai trăm lẻ bảy triệu một trăm ngàn đồng), trong đó gồm 190.000.000 đồng (một trăm chín mƣơi triệu đồng) tiền nợ gốc và 17.100.000 đồng (mƣời bảy triệu một trăm ng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Anh Trương Phúc T và anh Nguyễn Huỳnh Phúc K khởi kiện bà Nguyễn Thị Bích Lvà ông Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Căn cƣ́ các Điều 471, 474, 476, 478 Bộ luật Dân sự 2005;
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 53/2018/DS-ST
Ngày 12-6-2018
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Ngọc Liên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Châu Kim Hổ;

2. Bà Châu Hồng Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Vân, Thƣ ký Tòa án nhân dân th ị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2018/TLST-DS ngày 12/01/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 63/2018/QĐXXST-DS ngày 02/5/2018, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn:

1. Anh Nguyễn Huỳnh Quốc K, sinh năm 1979; thƣờng trú: B50A, tổ 29, khu phố 5, phƣờng L, thành phố B, tỉnh N. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

2.Anh Trƣơng Phúc T, sinh năm 1995; thƣờng trú: B49, tổ 29, khu phố 5, phƣờng L, thành phố B, tỉnh N. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

-Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1970 và ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965; cùng thƣờng trú: Số 320B/24, khu phố N1, phƣờng A, thị xã D, tỉnh B. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/12/2017, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Huỳnh Quốc K và anh Trƣơng Phúc T trình bày:

Do là chỗ quen biết nên nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 190.000.000 đồng (một trăm chín mƣơi triệu đồng), việc vay tiền đƣợc thể hiện tại giấy thỏa thuận mƣợn tiền ngày 18/8/2016, thời hạn vay 01 tháng tính từ ngày 18/8/2016, lãi suất hai bên thỏa thuận miệng 2%/tháng nhƣng không ghi vào giấy mƣợn tiền.

Mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền đã vay nhƣng bị đơn không trả nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả tiền nợ gốc 190.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi suất từ ngày 19/9/2016 đến ngày 19/9/2017 với mức lãi suất 9%/năm tƣơng đƣơng 0,75%/tháng x 12 tháng = 17.100.000 đồng. Tổng cộng 207.100.000 đồng.

Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Giấy thỏa thuận mƣợn tiền ngày 18/8/2016 có chữ ký của bà Nguyễn Thị Bích L và ông Nguyễn Văn T.

Quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị Bích L và ông Nguyễn Văn T đã đƣợc Tòa án tống đạt thông báo thu ̣ lý, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 11/4/2018 và tham gia phiên tòa vào các ngày 21/5/2018 và 12/6/2018 nhƣng bà Nguyễn Thị Bích L và ông Nguyễn Văn T không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố nào, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhận định:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Bích L và ông Nguyễn Văn T có địa chỉ tại phƣờng A, thị xã D, tỉnh B phải trả số tiền 207.100.000 đồng (trong đó nợ gốc 190.000.000 đồng và tiền lãi 17.100.000 đồng). Vì vậy, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh B đƣợc quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 thì “Thời hiệu khởi kiện….tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày ngườ i có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ich hợp phá p của minh bi ̣ xâm phạm ”. Từ

́

̀ 19/9/2016, bà Nguyễn Thị Bích L và ông Nguyễn Văn T không thanh toán tiền gốc và lãi theo thỏa thuận. Ngày 08/12/2018, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu thanh toán số tiền còn nợ nên thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản vẫn còn.

Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Ngày 10/4/2018, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mă ̣t . Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích L và ông Nguyễn Văn T đã đƣợc triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhƣng bà L và ông T vắng mặt. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đƣơng sự trên.

Về nội dung: Căn cứ vào giấy thỏa thuận mƣợn tiền ngày 18/8/2016 có cơ sở xác định bà Nguyễn Thị Bích L và ông Nguyễn Văn T vay số tiền 190.000.000 nên nguyên đơn khởi kiện là có căn cứ.

Nguyên đơn cho rằng giữa nguyên và bị đơn có thỏa thuận miệng lãi suất 2%/tháng nhƣng nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh, đồng thời quá trình tố tụng bị đơn không đến Tòa án nên không có căn cứ xác định đây là hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 478 Bộ luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, nguyên đơn không yêu cầu tính lãi suất đối với khoản vay trong hạn nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nƣớc quy định 9%/năm tƣơng đƣơng 0,75%/tháng x 12 tháng (từ ngày 19/9/2016 đến ngày 19/9/2017), xét đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn, phù hợp với quy định tại Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 và có lợi cho bị đơn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Quá trình tố tụng, bị đơn đã đƣợc Tòa án niêm yết giấy triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhƣng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có văn bản nào thể hiện ý kiến của bị đơn về việc không thừa nhận chữ ký của mình trong giấy thỏa thuận mƣợn tiền, đồng thời bị đơn cũng không xuất trình chứng cứ chứng minh bị đơn không vay nợ của nguyên đơn hoặc đã thanh toán xong các khoản nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu trả số tiền 207.100.000 đồng là có căn cứ để chấp nhận.

Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Bích L và ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cƣ́ các Điều 471, 474, 476, 478 Bộ luật Dân sự 2005;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Buộc bà Nguyễn Thị Bích L và ông Nguyễn Văn T phải thanh toán cho anh Nguyễn Huỳnh Quốc K và anh Trƣơng Phúc T số tiền 207.100.000 đồng (hai trăm lẻ bảy triệu một trăm ngàn đồng), trong đó gồm 190.000.000 đồng (một trăm chín mƣơi triệu đồng) tiền nợ gốc và 17.100.000 đồng (mƣời bảy triệu một trăm ngàn đồng) tiền lãi.

Kể từ ngày ngƣời đƣợc yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ngƣời phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng ngƣời phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tƣơng ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Bích L và ông Nguyễn Văn T phải nộp 10.355.000 đồng (mƣời triệu ba trăm năm mƣơi lăm ngàn đồng). Anh Nguyễn Huỳnh Quốc K và anh Trƣơng Phúc T không phải chịu. Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh B hoàn trả cho anh Nguyễn Huỳnh Quốc K và anh Trƣơng Phúc T 5.310.000 đồng (năm triệu ba trăm mƣời ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0018768, ngày 10/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh B.

3. Các đƣơng sự đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

4. Trƣờng hợp bản án, quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ