- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hầu Văn Ph - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hầu Văn Ph phạm tội "Đánh bạc”
- Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 53/2017/HS-ST Ngày 14 – 11 - 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Đình Thân
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngư
2. Ông Nguyễn Công Lý
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Lương.
Đại diện VKSND huyện Phú Lương tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Nghĩa Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở TAND huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2017/HSST ngày 17 tháng 8 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2017/HSST-QĐ ngày 05 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:
Hầu Văn Ph. Tên gọi khác: Không – Sinh ngày: 20/11/1970
Nơi sinh: Xóm M, xã Đ, huyện P, tỉnh T.
Nơi cư trú: Xóm M, xã Đ, huyện P, tỉnh T.
Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Sán Chí. Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Hầu Văn K và bà Trần Thị T1 (Đã chết). Có vợ: Phạm Thị N – Sinh năm 1969. Con: 02 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1996. Tiền sự: Không.
Tiền án: 02.
- Tại bản án số 124/2013/HSST ngày 05/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Hầu Văn Ph 21 tháng tù về tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc.
- Tại bản án số 102/2014/HSST ngày 27/11/2014 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Hầu Văn Ph 18 tháng tù về tội Đánh bạc. Tổng hợp hình phạt với bản án số 124/2013, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 39 tháng tù.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 23/5/2017 đến ngày 01/6/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn; áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại tại xóm M, xã Đ, huyện P, tỉnh T. (Có mặt)
- Người làm chứng:
1. Phùng Văn Kh – Sinh năm 1982, trú tại: Xóm Đ1, xã T2, huyện P, tỉnh T ( Vắng mặt)
2. Tạ Bá H – Sinh năm 1986, trú tại: Xóm P1, xã P2, huyện P, tỉnh T ( Vắng mặt)
3. Đàm Quang H1 – Sinh năm 1985, trú tại: Xóm K 1, xã P2, huyện P, tỉnh T ( Vắng mặt)
4. Đỗ Văn H2 – Sinh năm 1993, trú tại: Xóm P3, xã P2, huyện P, tỉnh T ( Vắng mặt)
5. Đỗ Công T3 – Sinh năm 1989, trú tại: Xóm P3, xã P2, huyện P, tỉnh T ( Vắng mặt)
6. Hoàng Đình Đ2 – Sinh năm 1986, trú tại: Xóm K3, xã P2, huyện P, tỉnh T ( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 30 phút ngày 23/5/2017, tổ công tác của Công an huyện P phối hợp với Công an xã P2, huyện P bắt quả tang tại nhà ở của Hoàng Đình Đ2 06 đối tượng đang đánh bạc trái phép bằng hình thức “đánh liêng” sát phạt nhau bằng tiền, bao gồm: Hầu Văn Ph, Phùng Văn Kh, Tạ Bá H, Đàm Quang H1, Đỗ Văn H2, Nguyễn Công T4. Vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân thu giữ trên chiếc mành trúc nơi các đối tượng đánh bạc; 01 chiếu mành trúc loại chiếu đôi đã cũ trải trên nền phòng vị trí nơi các đối tượng ngồi đánh bạc; Tiền Việt Nam thu trên chiếu bạc là 1.620.000 đồng, tạm giữ trên người Hải 350.000 đồng.
Quá trình điều tra Ph và các đối tượng khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 23/5/2017, H1, Kh, H1, H2, T4 đến nhà Đ2 chơi và rủ nhau lên tầng gác mái nhà Đông đánh bạc bằng hình thức “liêng”. Cách chơi như sau: Dùng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, trước khi bắt đầu chia bài, mỗi người bỏ ra một số tiền nhất định bằng nhau gọi là tiền sàn, mỗi người được chia 3 lá bài. Người đánh có quyền “tất tay”, “tố”, “theo”, “úp bài”. Trong đó, “tất tay” là việc người đánh đặt toàn bộ số tiền mình có; “tố” là việc người đánh đặt tiền cược cao hơn với những người cửa trên đã đặt; “theo” là việc người đánh đặt tiền cược đúng bằng số tiền người ở cửa trên đã đặt; “úp bài” là việc người đánh bỏ ván chơi. Người nào có bộ 3 quân bài cao nhất sẽ thắng. Có 4 hình thức so sánh bộ 3 quân bài thứ tự là: “sáp”, “liêng”, “ảnh”, “điểm”. “Sáp” là ba quân bài giống nhau, nếu cùng có sáp thì sáp cao hơn sẽ thắng, “liêng” là 3 quân liên tiếp nhau không cần cùng chất, nếu cùng là “liêng” thì liêng cao hơn sẽ thắng; “ảnh” là khi bà quân bài đều có hình đầu người (J, Q, K), nếu cùng có ảnh thì ảnh cao hơn sẽ thắng. Khi không có “sáp”, “liêng”, “ảnh” thì lấy điểm của ba quân bài cộng lại, rồi lấy phần dư chia cho 10 để so sánh điểm và sắp xếp từ 9 đến 0, người nào cao điểm hơn sẽ thắng. Mức đặt cược tối thiểu là 10.000 đồng, mức “tố” cao nhất là 50.000 đồng. Cả nhóm đánh bạc được khoảng 10 phút thì Ph đến và tham gia đánh bạc đến 17 giờ 30 phút cùng ngày thì bị bắt quả tang. Các đối tượng thừa nhận toàn bộ số tiền thu trên chiếu bạc là 1.620.000 đồng và thu giữ trên người H2 là 350.000 đồng, số tiền này H2 xác định dùng vào việc đánh bạc.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Xác định không bị ép cung, nhục hình, khai báo trong tình trạng sức khỏe tốt, tỉnh táo. Được nhận bản cáo trạng, đã đọc kỹ và nghe công bố tại phiên tòa, không thắc mắc về nội dung bản cáo trạng. Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử và không nhờ người bào chữa.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Hầu Văn Ph. Bản cáo trạng số 43/QĐ-VKS ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương truy tố bị cáo Hầu Văn Ph về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hầu Văn Ph phạm tội “Đánh bạc”
Áp dụng: Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 1, 3 Điều 248, điểm p khoản 1, 2 điều 46 BLHS.
Xử phạt bị cáo Hầu Văn Ph mức án 06 – 09 tháng tù.
Phạt bổ sung: 05 – 07 triệu đồng.
Đề nghị xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét về hành vi của bị cáo: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/5/2017, tại nhà ở của Hoàng Đình Đ2 thuộc xóm K3, xã P2, huyện P, tỉnh T, Hầu Văn Ph đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức “đánh liêng” cùng Phùng Văn Kh, Tạ Bá H, Đàm Quang H1, Đỗ Văn H2 và Nguyễn Công T4 bị bắt quả tang, số tiền dùng vào việc đánh bạc là 1.970.000 đồng, tuy nhiên trước đó Ph đã bị kết án về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc, chưa được xóa án tích. Số tiền thu được trên chiếu bạc là 1620.000 đ và trên người H2 là 350.000 đ tổng cộng 1970.000 đ. Khoản 1 điều 248 BLHS 1999 sửa đổi 2009 quy định: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đống nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.”
Khoản 1 điều 321 BLHS 2015 sửa đổi 2017 quy định: “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại điều 322 của Bộ luật này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đ đến 100.000.000 đ, phạt cải tạo không giam gữi đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”
Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS 1999 sửa đổi năm 2009. Như vậy, cáo trạng số 43/QĐ-VKS ngày 15 tháng 8 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi 2017 khung hình phạt khoản 1 điều 248 BLHS 1999 thấp hơn khoản 1 điều 321 BLHS 2015 sửa đổi 2017. Do đó cần áp dụng khoản 1 điều 248 BLHS 1999 để xét xử đối với bị cáo theo hướng có lợi cho bị cáo.
Xét tính chất của vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, đi ngược lại với công cuộc bài trừ tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.
Xét các yếu tố về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, mặc dù đã 02 lần bị Tòa án xử phạt cũng về hành vi đánh bạc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đó thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS là người phạm tội thành khẩn khai báo. Bị cáo có bố là người có công với Nhà nước, được Nhà nước tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến, do vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS. Tình tiết tái phạm được xác định là tình tiết định tội nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần phải có mức án nghiêm minh và cách ly bị cáo với xã hội một thời gian, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo được quy định tại khoản 3 điều 248 BLHS 1999.
Về vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài, 01 chiếu mành trúc loại chiếu đôi đã cũ; Số tiền 1.970.000 đồng là tiền bị cáo cùng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Cần buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp nên cần được chấp nhận.
Các đối tượng Phùng Văn Kh, Tạ Bá H, Đàm Quang H1, Đỗ Văn H2 và Nguyễn Công T4 có hành vi đánh bạc nhưng chưa bị xử phạt hành chính và chưa có án tích nên chưa cấu thành tội phạm, cơ quan Công an xử lý hành chính là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Hầu Văn Ph phạm tội "Đánh bạc”
2. Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/06/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi 2017, Khoản 1, 3 Điều 248, điểm p khoản 1, 2 Điều 46 BLHS 1999 sửa đổi 2009
Xử phạt bị cáo Hầu Văn Ph 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2017 đến ngày 01/6/2017.
Phạt bổ sung: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) sung ngân sách Nhà nước
3. Vật chứng của vụ án: Căn cứ điều 41 BLHS, điều 76 Bộ luật TTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếu mành trúc loại chiếu đôi đã cũ
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.970.000 đồng là tiền bị cáo và các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc;
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2017 giữa Công an huyện Phú Lương và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Lương, Phiếu ủy nhiệm chi số 49 ngày 29/8/2017)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết được quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND Phú Lương; - THADS Phú Lương; - Công an Phú Lương; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - Sở Tư pháp Thái Nguyên; - Bị cáo; - UBND xã P2; - Lưu Hs. | tm. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Lưu Đình Thân |