vanban.org

Bản án 53/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 39, khoản 4 điều 147, Khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228, khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Áp dụng: Điều 39 Bộ Luật dân sự. Áp dụng: Điều 56, khoản 2 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "VU HOANG THUY DIEM M LY HON DINH VAN H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 39, khoản 4 điều 147, Khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228, khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN ND HUYỆN CHÂU ĐỨC
TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 53/2017/HNGĐ-ST
Ngày : 21/12/ 2017
V/v : “ Ly hôn“

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC

- Thành phần hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Trọng Hải

- Hội thẩm nhân dân:

- Bà Võ Lệ Huyền

- Bà Trần Thị Hạnh

- Thư Ký phiên toà: Bà Tạ Thị Mỹ Hạnh thư ký Tòa án huyện Châu Đức.

- Đại diện VKSND Huyện Châu Đức tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích– Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 204/2017/TLST-HNGÑ ngày 06 tháng 06 năm 2017 về: “Ly hôn”

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/11/2017, Quyết định hoãn phiên toà số 39/2017/QĐHPTST-HNGĐ ngày 21/8/2017, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thúy Diễm M Sinh năm: 1991

Địa chỉ: Thôn 5, xã Bình Trung, huyện C, tỉnh BR.

(Có đơn xin xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Đinh Văn H Sinh năm: 1990

Địa chỉ : Thôn 5, xã Bình Trung, huyện C, tinh BR.

(Vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09/5/2017, biên bản lời khai ngày 13/7/ 2017 và các biên bản làm việc khác thì nguyên đơn chị Hoàng Thúy Diễm M trình bày:

Chị Hoàng Thúy Diễm M và anh Đinh Văn H quen biết và thương yêu nhau tiến tới tổ chức cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 14 tháng 8 năm 2012 tại UBND xã Q, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trên tinh thần tự nguyện. Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc đến năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau thường xuyên cải vã và bà M bỏ về sống tại gia đình cha mẹ ruột. Từ đó vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Sau khi vợ chồng ly thân thì gia đình hai bên có khuyên giải nhằm để hàn gắn lại cuộc sống gia đình nhưng không đạt kết quả.

Nay chị M thấy không còn tình cảm vợ chồng, hạnh phúc không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt nên yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Đinh Văn H.

- Về nuôi con chung: Có 01 con Cháu Đinh Hoàng G sinh ngày: 08.01.2013; Hiện cháu đang sống chung với chị M nên chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Đối với anh Đinh Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không lý do vì vậy không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.

Ý kiến của Viện kiểm sát: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, sau khi thụ lý đã thực hiện đầy các thủ tục tố tụng theo theo Bộ luật tố tụng dân sự. Nay anh H vắng mặt không lý do là lần thứ hai nên Tòa án xét xử vắng mặt anh H là có căn cứ. Mâu thuẫn của vợ chị Hoàng Thúy Diễm M và anh Đinh Văn H là có thật và trầm trọng, Nay chị M yêu cầu ly hôn là có cơ sở nghĩ nên chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:

[1] Chị Hoàng Thúy Diễm M và anh Đinh Văn H có đăng kết hôn tại UBND xã Q, huyện C, tỉnh B R vào ngày 14 tháng 8 năm 2012 là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp. Hiện hai bên điều cư trú tại huyện C nay có yêu cầu ly hôn căn cứ vào điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C.

Chị Hoàng Thúy Diễm M và anh Đinh Văn H sau khi sống chung từ năm 2012 đến nay có với nhau được 01 con chung. Đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, từ đó chị M bỏ về gia đình cha mẹ ruột sống cùng với con. Từ đó vợ chồng sống ly thân, mặt dù chị M và gia đình hai bên cố gắng hàn gắn hạnh phúc của vợ chồng để cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng vẫn không đạt kết quả. Hiện chị M không còn tình cảm với anh Đinh Văn H.

Anh Đinh Văn H mặt dù theo kết quả xác minh hiện đang cư trú tại địa phương, nhưng khi được Tòa án triệu tập để hòa giải và giải quyết vụ án nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Điều đó thể hiện anh H không có thiện chí hòa giải để hàn gắn lại hạnh phúc cung nhau nuôi dạy con chung. Ngoài ra theo kết quả xác minh thì mâu thuẫn của vợ chồng chị M và anh H là có thật, do anh H hay ăn nhậu và đập phá đồ đạt trong gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy cải vã, không hạnh phúc.

Nay tình cảm vợ chồng không còn, mẫu thuẫn đã đến mức trầm trọng, vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không muốn níu kéo lại cuộc sống gia đình, để mặc cho mâu thuẫn xảy ra và kéo dài. Cho đến nay chị M vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh H là có cơ sở. Căn cứ vào điều 56 Luật hôn nhân và gia đình việc chị M yêu cầu ly hôn là có căn cứ phù hợp nghĩ nên chấp nhận.

Về nuôi con chung:

Có 01 con Cháu Đinh Hoàng G sinh ngày: 08.01.2013; Hiện cháu đang sống chung với chị M nên chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi và không yêu cầu anh H cấp dưỡng .

Từ khi ly thân cháu G sống chung với chị M và cháu vẫn phát triển bình thường khỏe mạnh, chị M cũng có nguyện vọng nuôi cháu. Để cuộc sống của cháu không bị xáo trộn nghĩ nên căn cứ vào khoản 2 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị M, giao cho chị M được tiếp tục nuôi dưỡng cháu G là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147BLTTDS.

Áp dụng: Điểm a khoàn 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án chị Hoàng Thúy Diễm M chịu toàn bộ.

Chị Hoàng Thúy Diễm M có đơn xin xử vắng mặt, anh Đinh Văn H đã được Tòa án triệu tập hợp nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điều 227, 228, khoản 1 điều 238 BLTTDS năm 2015 xử vắng mặt các đương sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 39, khoản 4 điều 147, Khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228, khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Áp dụng: Điều 39 Bộ Luật dân sự.

Áp dụng: Điều 56, khoản 2 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận toaøn boä yêu cầu của chị Hoàng Thúy Diễm M ñoái với anh Đinh Văn H trong việc tranh chấp ly hôn.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thúy Diễm M anh Đinh Văn H.

2. Về nuôi con chung: Có 01 con chung cháu Đinh Hoàng G; sinh ngày : 08.01.2013.

2.1 Giao cháu Đinh Hoàng G; sinh ngày: 08.01.2013 cho chị Hoàng Thúy Diễm M trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2 Anh Đinh Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về chia tài sản, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

Về án phí HNST: Chị Hoàng Thúy Diễm M nộp 300.000(ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án 300.000(ba trăm ngàn) đồng chị Hoàng Thúy Diễm M đã nộp theo biên lai thu số: 0005231 ngày 06/6/2017 của Chi cục thi hành án thi hành án dân sự huyện Châu Đức chị Hoàng Thúy Diễm M đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự .

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ. Nơi gởi:

Cỡ chữ