vanban.org

Bản án 528/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ánh Nh.

Về con chung: Giao 02 con tên Võ Nguyễn Ngọc Tr và Võ Nguyễn Ngọc Tr cùng sinh ngày 30-01-2019 cho chị Nguyễn Thị Ánh Nh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Võ Quan Ng có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 1.500.000 đồng (750.000 đồng/01 con). Thời hạn cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật. Anh Ng có q… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ánh Nh.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bảnánsố:528/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 25-9-2020
V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phƣơng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Châu Văn Bình

Ông Nguyễn Trung Trực

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Minh Quân- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Phụng- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 391/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1995; (có đơn xin vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp Mỹ H, xã Mỹ L, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Võ Quan Ng, sinh năm 1997; (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp An Kh, xã An Thạnh Th, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ánh Nh trình bày: Chị và anh Võ Quan Ng chung sống vợ chồng từ năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã An Thạnh Th, huyện Chợ Gạo vào ngày 12-10-2018. Khi chị sinh đôi con anh Ng không có trách nhiệm trong việc chăm sóc vợ, con, không làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu được ly hôn với anh Ng.

Về con chung: Có 02 con tên Võ Nguyễn Ngọc Tr và Võ Nguyễn Ngọc Tr cùng sinh ngày 30-01-2019. Khi ly hôn chị Nh có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, yêu cầu anh Ng cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng/02 con.

Về tài sản chung: một sợi day chuyền vàng 24k trọng lượng 5 chỉ, hai lắc tay vàng 24k trọng lượng 4 chỉ, một đôi bông tai vàng 24k trọng lượng 1 chỉ và hai nhẫn vàng 18k mỗi nhẫn là 5 phân. Chị yêu cầu chia đôi.

Về nợ chung: nợ mẹ ruột bà Âu Thúy L 6.362.000 đồng, yêu cầu chia đôi số nợ trên.

Trong quá trình giải quyết chị Nguyễn Thị Ánh Nh có thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về mức cấp dưỡng nuôi con chỉ yêu cầu anh Ng cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 1.500.000 đồng (750.000 đồng/01 con); rút một phần yêu cầu khởi kiện về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung.

Bà Âu Thúy L (mẹ chị Nh) có đơn đề ngày 04-8-2020 không yêu cầu giải quyết về nợ chung.

Bị đơn, anh Võ Quan Ng mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nh, đồng thời vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại Tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nh là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nh.

Về con chung: Giao 02 con Võ Nguyễn Ngọc Tr và Võ Nguyễn Ngọc Tr cùng sinh ngày 30-01-2019 cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh Ng cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 1.500.000 đồng theo yêu cầu chị Nh.

Về tài sản chung và nợ chung: không có tranh chấp, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Chị Nguyễn Thị Ánh Nh và anh Võ Quan Ng tranh chấp về việc ly hôn; bị đơn hiện cư trú tại ấp An Kh, xã An Thạnh Thủy, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết vụ án là của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

Chị Nguyễn Thị Ánh Nh có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt; anh Võ Quan Ng vắng mặt tại phiên tòa, mặc dù đã được triệu tập (tống đạt) hợp lệ. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Nh, anh Ng.

Đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Ánh Nh và anh Võ Quan Ng là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã An Thạnh Thủy, huyện Chợ Gạo cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 12-10-2018. Hội đồng xét xử xét thấy, khi chị Nh có đơn xin ly hôn, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án hợp lệ nhưng anh Ng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nh, các lần hòa giải và tại phiên tòa anh Ng vắng mặt không có lý do. Điều đó đã cho thấy anh Ng không còn quan tâm đến hôn nhân giữa anh chị. Quá trình giải quyết vụ án anh Ng không có ý kiến, không tham gia hòa giải cũng như tham dự phiên tòa nên không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng được. Xét thấy tình cảm và đời sống chung của vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, cần chấp nhận cho chị Nh ly hôn với anh Ng.

Về con chung: Có 02 con tên Võ Nguyễn Ngọc Tr và Võ Nguyễn Ngọc Tr cùng sinh ngày 30-01-2019. Xét cần giao cho chị Nh trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh Ng phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 1.500.000 đồng (750.000 đồng/01 con). Thời hạn cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nh rút yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút.

Lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị Nh phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Ánh Nh. Chị Nguyễn Thị Ánh Nh được ly hôn với anh Võ Quan Ng.

2. Về con chung: Giao 02 con tên Võ Nguyễn Ngọc Tr và Võ Nguyễn Ngọc Tr cùng sinh ngày 30-01-2019 cho chị Nguyễn Thị Ánh Nh trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Võ Quan Ng có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng 1.500.000 đồng (750.000 đồng/01 con). Thời hạn cấp dưỡng khi án có hiệu lực pháp luật. Anh Ng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Chị Nguyễn Thị Ánh Nh phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Chị Nh đã nộp 950.000 (chín trăm năm mươi nghìn) đồng tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003994 ngày 22-7-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, nên được hoàn lại 650.000 (sau trăm năm mươi nghìn) đồng.

Anh Võ Quan Ng phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Nh, anh Ng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Cỡ chữ