- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "HĐ vay"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của chị Trần Mộng Yến.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 527/2023/DS-PT Ngày: 28 - 12 - 2023 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Danh Đạt.
- Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tấn Tặng;
Bà Nguyễn Thị Võ Trinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Lê Ánh Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đến – Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 285/2023/TLPT-DS ngày 19/10/2023 về Tranh chấp hợp đồng vay tài sản;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 74/2023/DS-ST ngày 06 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 450/2023/QĐ-PT ngày 06 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trần Văn H, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Số nhà 298, đường Nguyễn Văn Dũng, Tổ 42, Khóm 5, Phường 6, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Trần Mộng Y, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Số nhà 786, đường Phạm Hữu Lầu, Phường 6, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Chị Trần Mộng Y là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn anh Trần Văn Hợi trình bày:
Ngày 25 và 26/01/2022 anh có cho chị Trần Mộng Yến vay số tiền 1.000.000.000 đồng theo hợp đồng vay tiền HĐKT01/2022 ngày 26/01/2022. Thời hạn vay là khi cần tiền thì anh sẽ báo trước 01 tháng cho chị Yến biết, lãi suất thỏa thuận miệng 6%/tháng. Ngày 26/02/2022 và 26/3/2022 chị Yến có đóng lãi cho anh tổng cộng số tiền 120.000.000 đồng. Từ ngày 27/3/2022 đến nay chị Yến không trả tiền lãi và vốn cho anh nữa.
Vì vậy, anh yêu cầu chị Trần Mộng Yến trả số tiền vay là 1.000.000.000 đồng và tiền lãi còn thiếu là 167.733.000 đồng. Thời gian tính từ ngày 26/01/2022 đến ngày 06/7/2023 là 17 tháng 10 ngày, mức lãi suất 1,66%/tháng, thành tiền 1.000.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 17 tháng 10 ngày = 287.733.000 đồng – 120.000.000 đồng tiền lãi đã đóng và yêu cầu tiếp tục tính tiền lãi từ ngày 07/7/2023 đến khi thi hành án xong.
- Bị đơn chị Trần Mộng Yến trình bày:
Chị thừa nhận có vay của anh Hợi số tiền 1.000.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận miệng 6%/tháng. Chị đã trả tiền lãi cho anh Hợi được 02 tháng với số tiền 120.000.000 đồng. Do đó, yêu cầu trừ số tiền lãi vượt quá quy định của pháp luật 86.800.000 đồng (120.000.000 đồng – 1.000.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 2 tháng) vào tiền vay gốc. Chị đồng ý trả cho anh Hợi số tiền vay gốc 913.200.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 74/2023/DS-ST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Hợi.
Buộc chị Trần Mộng Yến có trách nhiệm trả cho anh Trần Văn Hợi số tiền vay 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng), số tiền lãi còn lại 167.733.000 đồng (một trăm sáu mươi bảy triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng). Tổng cộng tiền vay và tiền lãi là 1.167.733.000 đồng (một tỷ một trăm sáu mươi bảy triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác, quyền và thời hạn kháng cáo, quyền, nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/7/2023 chị Trần Mộng Yến làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Chị yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Hợi; Xem xét điều chỉnh lại tiền gốc và lãi mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử.
Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Trần Văn Hợi vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị Trần Mộng Yến vẫn giữ nguyên kháng cáo của mình. Các đương sự đồng ý điều chỉnh lại vốn và lãi theo quy định của pháp luật.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự có mặt tại phiên tòa đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị Trần Mộng Yến, sửa một phần Bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Các đương sự đều thừa nhận việc anh Hợi có cho chị Yến vay số tiền 1.000.000.000đ vào ngày 26/01/2022 và chị Yến có trả cho anh Hợi được 02 tháng tiền lãi với mức lãi suất 06%/tháng vào ngày 26/02/2022 và 26/3/2022, tổng số tiền là 120.000.000đ.
Tuy nhiên, do các đương sự thỏa thuận mức lãi suất vay 06/%/tháng là cao hơn mức lãi suất theo quy định của pháp luật, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Hợi với mức lãi suất 1,66%/tháng/ số tiền vay 1.000.000.000đ, tính từ ngày vay 26/01/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm 06/7/2023 là 17 tháng 10 ngày với số tiền lãi cụ thể là: 1.000.000.000đ x 1,66%/tháng x 17 tháng 10 ngày = 287.733.000đ và trừ số tiền lãi chị Yến đã đóng 120.000.000đ, số tiền lãi còn phải đóng là 167.733.000đ và buộc chị Yến phải trả cho anh Hợi tiền vay 1.000.000.000đ và 167.733.000đ tiền lãi, tổng cộng 1.167.733.000 đồng là chưa phù hợp. Bởi vì, theo quy định của pháp luật thì chị Yến chỉ phải trả tiền lãi cho anh Hợi mỗi tháng là: 1.000.000.000đ x 1,66%/tháng = 16.600.000đ. Trong khi đó vào ngày 26/02/2022 chị Yến trả cho anh Hợi 60.000.000đ (60.000.000đ – 16.600.000đ = 43.400.000đ) là vượt quá 43.400.000đ. Số tiền này phải được trừ vào tiền vốn vay là 1.000.000.000đ – 43.400.000đ = 956.600.000đ. Tiền lãi theo quy định của pháp luật đối với tháng tiếp theo của 956.600.000đ là 956.600.000đ x 1,66%/tháng = 15.879.500đ. Ngày 26/3/2022 chị Yến trả lãi tiếp cho anh Hợi 60.000.000đ (60.000.000đ – 15.879.500đ = 44.120.000đ) là vượt quá 44.120.000đ. Số tiền này phải được trừ vào tiền vốn nên số tiền vốn vay còn lại là 956.600.000đ - 44.120.000đ = 912.480.000đ.
Do chị Yến đã trả lãi cho anh Hợi được 02 tháng tính đến ngày 26/3/2022, nên chị Yến chỉ phải trả lãi tiếp cho anh Hợi theo quy định của pháp luật từ ngày 27/3/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 06/7/2023 tương đương 15,3 tháng. Cụ thể là: 912.480.000đ x 1,66% x 15,3 tháng = 231.751.600đ. Tổng cộng vốn, lãi phải trả là 912.480.000đ + 231.751.600đ = 1.144.231.600đ. Vì vậy, chị Yến kháng cáo yêu cầu điều chỉnh lại tiền gốc và lãi theo quy định của pháp luật là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm anh Hợi cũng đồng ý điều chỉnh lại tiền vốn vay và lãi theo quy định của pháp luật. Xét thấy, đây là sự tự nguyện và phù hợp pháp luật nên chấp nhận.
Xét ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị Trần Mộng Yến, sửa một phần Bản án sơ thẩm là có căn cứ nên chấp nhận.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị Yến, sửa một phần Bản án sơ thẩm.
Do chấp nhận kháng cáo của chị Yến nên chị Yến không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 147, Điều 148, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của chị Trần Mộng Yến.
2. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 74/2023/DS-ST ngày 06/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
3. Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn Hợi.
4. Buộc chị Trần Mộng Yến phải trả cho anh Trần Văn Hợi số tiền vay 912.480.000 đồng và lãi là 231.751.600 đồng, tổng cộng là 1.144.231.600 đồng (Một tỷ một trăm bốn mươi bốn triệu hai trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
5. Về án phí:
+ Chị Trần Mộng Yến phải chịu 46.327.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0012591 ngày 25/7/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cao Lãnh. Chị Yến còn phải nộp tiếp số tiền còn lại là 46.027.000 đồng.
+ Anh Trần Văn Hợi được nhận lại 23.247.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0012043 ngày 14/3/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cao Lãnh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi Nhận:
| - VKSND tỉnh Đồng Tháp; - TAND thành phố Cao Lãnh; - CCTHADS thành phố Cao Lãnh; - Phòng KTNV- THA TAND tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, VT (N). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Sỹ Danh Đạt |