- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn K phạm tội" tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH THÁI NGUYÊN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 527/2022/HSST Ngày 12/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thúy Mai
2. Bà Trần Thị Lan Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái
Nguyên tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Kim Oanh, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành
phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 479/2022/TLST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 452 /2022/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Trần Văn K, tên gọi khác: không. Sinh ngày 05/8/1992. ĐKHKTT: Xóm
T1, xã TH, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Hồng C, đã chết; Con bà Nông Thị G; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái
Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/8/2022 đến nay). Có mặt tại phiên tòa
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm
1976. Vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa.
Trú tại: xóm D, xã KP, huyện ĐT, tỉnh Thái Nguyên
* Người chứng kiến: Anh Trịnh Huy H, sinh năm 1993. Vắng mặt
Trú tại: Tổ 01, phường QV, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ ngày 03/8/2022, tổ công tác của Công an phường Quang Vinh,
thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 05 của phường thì phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác áp sát và yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên trên khai tên là Trần Văn K. Quá trình kiểm tra, K tự giác lấy từ túi quần phía trước bên trái đang mặc có 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. K khai đó là ma túy Heroine vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với K, thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của K 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 98L6-3196; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh.
Hồi 17 giờ 10 phút ngày 03/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an
thành phố Thái Nguyên đã tiến hành cân xác định số chất bột màu trắng thu giữ của K có khối lượng 0,178 gam, ký hiệu A1 gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 1219/KL – KTHS ngày 11/8/2022 của
Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,178 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn K khai nhận: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày
03/8/2022, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 98L6
- 3196 đi một mình từ khu vực trường Đại học Giao thông vận tải thuộc phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên đến khu vực cây xăng thuộc tổ 05, phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, K gặp và mua được của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa Heroine với giá 200.000 đồng. Mua xong, K cất gói ma túy trên ở túi quần phía trước bên trái K đang mặc và điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường Quang Vinh phát hiện bắt quả tang như nêu trên.
*Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh,
BKS: 98L6 - 3196, đã qua sử dụng. Hiện đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn N quản lý, sử dụng.
02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2; 01 bì niêm phong ký hiệu Đ bên trong
chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, đã qua sử dụng. Hiện đang được bảo quản và lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 481/CT-VKSNDTPTN, ngày 25/10/2022 Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trần Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Trần Văn K khai nhận rõ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận
việc truy tố là đúng người, đúng tội, không oan, sai.
- Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố
Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38
BLHS, xử phạt bị cáo Trần Văn K từ 18 đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
+ Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu
hủy 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2; Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, đã qua sử dụng.
+ Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Trong phần tranh luận bị cáo không tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị
cáo xin HĐXX cho hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan
điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.
. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo, biên bản bắt người
phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Hồi 12 giờ ngày 03/8/2022 tại tổ 5, phường Quang Vinh, thành phố Thái
Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Trần Văn K có hành vi tàng trữ 0,178 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Văn K
về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ. Nội dung điều luật như sau: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
... c) Heroine,…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Bị cáo đủ nhận thức để nhận biết được tác hại của ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố ý phạm tội.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị
cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân tốt, tại Cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không
có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
. Vật chứng vụ án: Đối với 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2 bên trong
chứa ma túy và vỏ bao gói mẫu cần tịch thu tiêu hủy. Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Nokia thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc bị cáo mua ma túy nên tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 98L6 – 3196 thu giữ
của bị cáo, quá trình điều tra xác định của anh Nguyễn Văn N cho bi cáo mượn nhưng không biết bị cáo sử dụng đi mua ma túy, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Nam quản lý, sử dụng là đúng quy định.
. Về các vấn đề khác: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có
quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc số ma túy, Trần Văn K khai mua của người đàn ông không
quen biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở để xử lý.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1
Điều 51 BLHS, xử phạt Trần Văn K 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày
tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 bì niêm phong ký hiệu A1, A2;
- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn
hiệu Nokia, màu xanh, đã qua sử dụng đựng trong phong bì ký hiệu Đ.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 92 ngày
11/11/2022 giữa Công an thành phố Thái Nguyên và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên).
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số
97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí tòa án: Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo,báo cho
biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND TPTN; - Sở Tư pháp tỉnh TN; - Công an TPTN; - THADS TPTN; - Bị cáo; NLQ; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Tứ Xuân |