vanban.org

Bản án 527/2022/HNGĐ-ST — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thanh H.

Xác định: Trẻ Xu Gia D (nữ), sinh ngày 01/4/2020 (theo Giấy chứng sinh số 000123, quyển số 02/2020 do Bệnh viện Quốc tế City cấp ngày 03/4/2020) là con của ông Xu,W sinh năm 1975; Hộ chiếu số EB7963123 do Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cấp ngày 30/11/2017. Về án phí: Bà Trần Thanh H được miễn nộp … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thanh H.
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 527/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 25-8-2022
V/v Tranh chấp về xác định cha
cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lại Thị Thu Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Bà Đàm Thu Ánh.

2.Ông Khưu Hán Quang.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quốc Thiên Hương – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Vân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 346/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022 về “Tranh chấp về xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thanh H, sinh năm 1988; Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục QLHC về TTXH cấp ngày 20/12/2021; địa chỉ: 72/9 NT, Phường M, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Ông Xu,W, sinh năm 1975; Hộ chiếu số EB7963123 do Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cấp ngày 30/11/2017; địa chỉ nơi làm việc: 559 BT, Phường L, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; (có đơn xin vắng mặt)

Người phiên dịch cho ông Xu,W: Bà Chung Diệu Q, sinh năm 23/9/1996; địa chỉ: Thôn X, thị trấn H, huyện N, tỉnh G (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại Đơn khởi kiện nộp ngày 15/6/2022, bản tự khai, các biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Trần Thanh H trình bày:

Bà Trần Thanh H và ông Xu,W chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2018 đến nay mà không đăng ký kết hôn. Hai người có 01 con chung gọi là Xu Gia D, sinh ngày 01/4/2020 theo Giấy chứng sinh số 000123, quyển số 02/2020 do Bệnh viện Quốc tế City cấp ngày 03/4/2020. Do nhu cầu cho bé đi học, làm thủ tục khai sinh cho con và để con được như những đứa trẻ bình thường khác có đủ cha và mẹ, nay bà Trần Thanh H yêu cầu Tòa án xác định ông Xu,W là cha ruột của trẻ Xu Gia D (nữ), sinh ngày 01/4/2020.

* Bị đơn ông Xu,W:

Ông Xu,W thừa nhận đã sống chung như vợ chồng với bà H từ năm 2018 đến nay và không đăng ký kết hôn. Hai người có với nhau 01 bé gái hơn 02 tuổi, chưa đăng ký khai sinh. Tên gọi là Xu Gia D.

Ông Xu,W đã thực hiện xét nghiệm DNA theo yêu cầu của Tòa án nhân dân Quận 11 theo Quyết định số 14/2022/QĐ-TA, tại Bệnh viện Truyền máu huyết học (địa chỉ: 118 Hồng Bàng, Phường 12, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh) giữa ông Xu,W, con gái gọi là Xu Gia D và bà Trần Thanh H.

Ông Xu,W đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật như sau:

a) Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định của pháp luật.

b) Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy:

Căn cứ Kết quả xét nghiệm DNA huyết thống của Bệnh viện truyền máu huyết học: “Xác suất ông XU, W là cha đẻ của XU GIA D là 99,9999%” và “Xác suất bà TRẦN THANH H là mẹ đẻ của XU GIA D là 99,9999%”.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thanh H xác định ông Xu,W là cha ruột của trẻ Xu Gia D (nữ), sinh ngày 01/4/2020.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn bà Trần Thanh H khởi kiện yêu cầu Tòa án xác nhận trẻ Xu Gia D (nữ), sinh ngày 01/4/2020 là con ruột của ông Xu,W, căn cứ khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tranh chấp về xác định cha cho con nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông Xu,W đang làm việc tại Quận 11, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về việc xét xử vắng mặt các đương sự:

Nguyên đơn; bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về yêu cầu của đương sự: Bà Trần Thanh H yêu cầu Tòa án xác định ông Xu,W là cha đẻ của trẻ Xu Gia D, nữ, sinh ngày 01/4/2020. Hội đồng xét xử nhận thấy tại bản tự khai của bà Trần Thanh H và ông Xu,W đều xác nhận từ năm 2018, ông Xu,W và bà H có quan hệ tình cảm nên sinh ra trẻ Xu Gia D. Ngày 31/3/2020, Tòa án ra Quyết định trưng cầu giám định yêu cầu Bệnh viện truyền máu huyết học để xác định quan hệ huyết thống giữa ông Xu,W với trẻ Xu Gia D. Kết luận giám định DNA xác định: “Xác suất ông XU, W là cha đẻ của XU GIA D là 99,9999%” và “Xác suất bà TRẦN THANH H là mẹ đẻ của XU GIA D là 99,9999%”. Sau khi có kết quả giám định, ông Xu,W không có ý kiến gì về kết quả giám định và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Từ những căn cứ trên, việc xác định trẻ Xu Gia D (nữ), sinh ngày 01/4/2020 là con ruột của ông Xu,W là có cơ sở để chấp nhận.

b) Về bị đơn ông Xu,W: không có ý kiến và yêu cầu giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy yêu cầu của bà H không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

c) Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà H miễn nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 4 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 89, Điều 91, 101 và 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điểm b Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thanh H.

Xác định: Trẻ Xu Gia D (nữ), sinh ngày 01/4/2020 (theo Giấy chứng sinh số 000123, quyển số 02/2020 do Bệnh viện Quốc tế City cấp ngày 03/4/2020) là con của ông Xu,W sinh năm 1975; Hộ chiếu số EB7963123 do Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cấp ngày 30/11/2017.

2. Về án phí: Bà Trần Thanh H được miễn nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Hoàn trả cho bà Trần Thanh H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số AA/2021/0020155 ngày 15/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5.Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ